<!DOCTYPE html>
	<html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
	<head>
<title>NGUYỄN TRÃI - Nhân vật lịch sử, danh nhân đất Việt người họ Nguyễn.</title>
<meta name="description" content="Website họ Nguyễn Việt Nam - cổng thông tin cộng đồng họ Nguyễn Việt Nam - nơi cung cấp thông tin về các hoạt động dòng họ Nguyễn - Phả sử họ Nguyễn Việt Nam.">
<meta name="keywords" content="website họ nguyễn,  họ nguyễn việt nam,  người họ nguyễn,  lịch sử họ nguyễn,  nguồn góc họ nguyễn,  nguồn gốc nguyễn hữu,  phả đồ họ nguyễn,  lịch sử triều nguyễn,  ông tổ họ nguyễn,  nhà thờ họ nguyễn,  ">
<meta name="news_keywords" content="website họ nguyễn,  họ nguyễn việt nam,  người họ nguyễn,  lịch sử họ nguyễn,  nguồn góc họ nguyễn,  nguồn gốc nguyễn hữu,  phả đồ họ nguyễn,  lịch sử triều nguyễn,  ông tổ họ nguyễn,  nhà thờ họ nguyễn,  ">
<meta name="author" content="CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ">
<meta name="copyright" content="CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ []">
<meta name="robots" content="index, archive, follow, noodp">
<meta name="googlebot" content="index,archive,follow,noodp">
<meta name="msnbot" content="all,index,follow">
<meta name="generator" content="Hoàng Thi - Vinathis Agency">
<meta name="viewport" content="width=device-width, initial-scale=1">
<meta name="twitter:card" content="summary_large_image">
<meta name="twitter:title" content="NGUYỄN TRÃI - Nhân vật lịch sử, danh nhân đất Việt người họ Nguyễn.">
<meta name="twitter:description" content="Website họ Nguyễn Việt Nam - cổng thông tin cộng đồng họ Nguyễn Việt Nam - nơi cung cấp thông tin về các hoạt động dòng họ Nguyễn - Phả sử họ Nguyễn Việt Nam.">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="NGUYỄN TRÃI - Nhân vật lịch sử, danh nhân đất Việt người họ Nguyễn.">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Website họ Nguyễn Việt Nam - cổng thông tin cộng đồng họ Nguyễn Việt Nam - nơi cung cấp thông tin về các hoạt động dòng họ Nguyễn - Phả sử họ Nguyễn Việt Nam.">
<meta property="og:site_name" content="CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ">
<meta property="og:url" content="https://honguyenvietnam.org/vi/lich-su/nguyen-trai-nhan-vat-lich-su-danh-nhan-dat-viet-nguoi-ho-nguyen-222.html">
<meta property="og:locale" content="vi_VN">
<link rel="shortcut icon" href="https://honguyenvietnam.org/vi/favicon.ico">
<link rel="canonical" href="https://honguyenvietnam.org/vi/lich-su/nguyen-trai-nhan-vat-lich-su-danh-nhan-dat-viet-nguoi-ho-nguyen-222.html">
<link rel="dns-prefetch" href="https://honguyenvietnam.org//www.google-analytics.com" />
<link rel="dns-prefetch" href="https://honguyenvietnam.org//fonts.googleapis.com" />
<link rel="dns-prefetch" href="https://honguyenvietnam.org//connect.facebook.net" />
<link rel="preconnect" href="https://fonts.gstatic.com" crossorigin />
<link rel="dns-prefetch" href="https://honguyenvietnam.org//www.google-analytics.com" />
<link rel="dns-prefetch" href="https://honguyenvietnam.org//fonts.googleapis.com" />
<link rel="dns-prefetch" href="https://honguyenvietnam.org//connect.facebook.net" />
<link rel="preconnect" href="https://fonts.gstatic.com" crossorigin />
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/js/jquery/jquery.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/js/language/vi.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/js/global.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/news.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/main.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/fix_banners.js">
<link rel="StyleSheet" href="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/css/bootstrap.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/css/style.responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/css/news.css">
<link href="https://fonts.googleapis.com/css?family=Dancing+Script" rel="stylesheet">
<style>
	body{background: #fff;}
</style>
	<!-- JSON-LD Structured Data: Organization + WebSite -->
	<!-- END Schema.org global structured data -->
</head>
	<body>
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ</h2>
		<p class="pull-right"><a title="CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ" href="https://honguyenvietnam.org/vi/">https://honguyenvietnam.org/vi</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>NGUYỄN TRÃI - Nhân vật lịch sử, danh nhân đất Việt người họ Nguyễn.</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ tư - 01/05/2019 22:36</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
			Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌, 1380 – 19 tháng 9 năm 1442), hiệu là Ức Trai (抑齋), là một nhà chính trị, nhà thơ dưới thời nhà Hồ và nhà Lê sơ Việt Nam.
		</div>
				<div class="imghome">
			<img loading="lazy" alt="Danh nhân Văn Hóa Đất Việt Nguyễn Trãi" src="https://honguyenvietnam.org/vi/uploads/news/2019_05/8e46323ae50c813733372891f0fbe926.jpg" width="460" class="img-thumbnail" //>
		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
			<p>Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi làm quan dưới triều Hồ,&nbsp;nhà Minh&nbsp;xâm lược, cha ông là&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;đầu hàng rồi bị bắt giải về Trung Quốc, Nguyễn Trãi đi theo. Đến ải Nam Quan,cha ông khuyên ông nên quay về để trả nợ nước,báo thù nhà, ông làm theo. Sau khi nước Đại Ngu rơi vào sự cai trị của&nbsp;nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do&nbsp;Lê Lợi&nbsp;lãnh đạo chống lại ách Minh thuộc. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh.<sup data-original-title="^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Soạn giả Phan Huy Chú, Dịch giả Viện sử học; Nhà xuất bản giáo dục, 2005, Nguyễn Trãi, tr 274, 275" title="">2</sup></p>

<p>Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;xuống chiếu giải oan cho ông.<sup data-original-title="^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Soạn giả Phan Huy Chú, Dịch giả Viện sử học; Nhà xuất bản giáo dục, 2005, Nguyễn Trãi, tr 274, 275" title="">2</sup>&nbsp;Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Ông nằm trong danh sách 14 anh hùng dân tộc Việt Nam.<br  />
&nbsp;</p>

<h2>Nguồn gốc và giáo dục</h2>

<p>Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, quê ở làng Nhị Khê, huyện Thường Phúc nay là&nbsp;huyện Thường Tín,&nbsp;tỉnh Hà Tây&nbsp;(cũ); con&nbsp;Nguyễn Phi Khanh, tiến sĩ cuối đời Trần, cháu ngoại&nbsp;Trần Nguyên Đán<sup data-original-title="^ a ă Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Soạn giả Phan Huy Chú, Dịch giả Viện sử học; Nhà xuất bản giáo dục, 2005, Nguyễn Trãi, tr 274" title="">1</sup>&nbsp;.Phan Huy Chú&nbsp;nhận xét:&#039;<i>Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả.&#039;</i><sup data-original-title="^ a ă â b Phan Huy Chú 1961, tr. 192" title="">4</sup></p>

<p>Dưới thời&nbsp;nhà Trần, cha ông là&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;hay&nbsp;Nguyễn Ứng Long&nbsp;được Tư đồ&nbsp;Trần Nguyên Đán&nbsp;mời về dạy con gái, tên là&nbsp;</p>

<p>Thái, làm Thái có thai rồi bỏ trốn.&nbsp;Trần Nguyên Đán&nbsp;cho gọi Ứng Long về gả con gái cho, sinh ra Nguyễn Trãi. Sau đó Ứng Long thi đỗ nhưng vua&nbsp;Trần Nghệ Tông&nbsp;bỏ không dùng, cho rằng&nbsp;<i>&quot;Bọn chúng có vợ giàu sang, như thế là kẻ dưới mà dám phạm thượng.&#039;&#039;</i>&nbsp;<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư" title="">5</sup>&nbsp;Khi&nbsp;nhà Hồ&nbsp;thay&nbsp;nhà Trần,&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;được cất nhắc sử dụng, đổi tên là Phi Khanh (Phi Khanh sinh ra Trãi, cũng đỗ thái học sinh).</p>

<p>Theo nghiên cứu sử gia hiện đại&nbsp;Trần Huy Liệu,&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;và Trần Thị Thái có với nhau năm người con theo thứ tự là Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 19. Nguyễn Lương Bích 1973, tr. 39 thì ghi rằng chỉ có bốn người con là Nguyễn Trãi, Nguyễn Báo, Nguyễn Hùng và Nguyễn Ly." title="">6</sup>&nbsp;Mẹ ông mất sớm, anh em Nguyễn Trãi ở ông ngoại là&nbsp;Trần Nguyên Đán, đến năm 1390 thì&nbsp;Trần Nguyên Đán&nbsp;mất.&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;phải một mình nuôi các con.<sup data-original-title="^ a ă Trần Huy Liệu 1966, tr. 49" title="">7</sup>&nbsp;. Nguyễn Trãi còn ít tuổi rất ham học, điều đó được cha ông nói đến trong bài thơ&nbsp;<i>Gia viên lạc</i>:</p>
		<i>Cố viên loạn hậu hữu tiên lư</i>
		<i>Lục tuế nhi đồng phả ái thư</i>
	<b>Nghĩa là:</b>
		<i>Vườn xưa sau loạn còn nhà cũ</i>
		<i>Sáu tuổi con thơ rất thích sách</i>
<a name="su-nghiep"></a>

<h2>Sự nghiệp</h2>
<a name="lam-quan-thoi-nha-ho"></a>

<h3>Làm quan thời&nbsp;nhà Hồ</h3>

<p>Năm 1400,&nbsp;Hồ Quý Ly&nbsp;phế truất vua&nbsp;Trần Thiếu Đế, lật đổ&nbsp;nhà Trần,&nbsp;nhà Hồ&nbsp;thành lập. Ông ngoại của Nguyễn Trãi-&nbsp;Trần Nguyên Đán&nbsp;là một tôn thất, lại là đại thần triều Trần, không chống lại&nbsp;Hồ Quý Ly&nbsp;mà gửi gắm con cháu mình cho&nbsp;Hồ Quý Ly. Về sau con cháu&nbsp;Trần Nguyên Đán&nbsp;đều được&nbsp;Hồ Quý Ly&nbsp;bảo toàn.&nbsp;<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1998, tập 1,2,3" title="">8</sup></p>

<p>Cũng trong năm đó,&nbsp;nhà Hồ&nbsp;mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh, đứng thứ tư<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007, tr. 49" title="">9</sup>&nbsp;, được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng.&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;cũng ra làm quan, làm đến chức Hàn Lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 20" title="">10</sup>&nbsp;. Năm 1407, Minh&nbsp;Thành Tổ&nbsp;phái&nbsp;Trương Phụ&nbsp;đem quân xâm lược nước Đại Ngu,&nbsp;nhà Hồ&nbsp;kháng chiến thất bại,&nbsp;Hồ Quý Ly&nbsp;cùng nhiều triều thần bị bắt và bị đem về Trung Quốc. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhiều người kinh lộ không ủng hộ&nbsp;nhà Hồ&nbsp;nên hầu hết đầu hàng quân Minh. Cha ông là&nbsp;Nguyễn Phi Khanhcùng một số quan lại&nbsp;nhà Hồ&nbsp;đã đầu hàng trước đó. Sách Đại Việt sử ký toàn thư không chép gì về Nguyễn Trãi ở thời gian này.<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1998, tập 1,2,3" title="">11</sup></p>

<p>Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, sau cuộc Chiến tranh Minh - Đại Ngu, Đại Ngu rơi vào ách Minh thuộc. Lúc này, Nguyễn Trãi đang chạy trốn để thoát khỏi sự truy bắt của quân Minh.&nbsp;Trương Phụ&nbsp;ép Phi Khanh viết thư gọi ông, ông bất đắc dĩ phải ra hàng<sup data-original-title="^ a ă â b Phan Huy Chú 1961, tr. 192" title="">4</sup>&nbsp;. Nhiều tài liệu khác thì kể rằng, khi cha bị giải sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi đã theo cha lên cửa ải và tỏ ý muốn đi theo hầu hạ, nhưng&nbsp;Nguyễn Phi Khanh&nbsp;không đồng ý và khuyên ông nên về lo cứu nước báo thù nhà.<sup data-original-title="^ a ă â Trần Huy Liệu 1966, tr. 21" title="">12</sup></p>
<a name="muoi-nam-phieu-dat"></a>

<h3>Mười năm phiêu dạt</h3>

<p>Cuộc đời Nguyễn Trãi từ sau năm 1407 đến khi vào yết kiến&nbsp;Lê Lợi&nbsp;ở Lỗi Giang để tham gia khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn là một ẩn số. Cho tới nay, chưa thấy được những tài liệu chính xác, đầy đủ về Nguyễn Trãi trong thời kỳ đó. Sử sách không chép cũng như chép không thống nhất và bản thân Nguyễn Trãi cũng không ghi lại điều gì cụ thể&nbsp;<sup data-original-title="^ Nguyễn Lương Bích 1973, tr. 58" title="">13</sup>&nbsp;. Nguyễn Trãi nói nhiều đến&nbsp;<i>thập niên phiêu chuyển</i>&nbsp;(mười năm phiêu dạt) lênh đênh ở nơi chân trời góc biển trong một số văn thơ của ông, áng chừng là để chỉ khoảng thời gian này. Tất nhiên con số&nbsp;<i>mười năm</i>&nbsp;chỉ mang tính tương đối<sup data-original-title="^ a ă Nguyễn Lương Bích 1967, tr. 23-38" title="">14</sup>&nbsp;.</p>

<ul>
	<li>Theo&nbsp;Phan Huy Chú&nbsp;trong sách&nbsp;<i>Lịch triều hiến chương loại chí</i>, sau khi ra hàng quân Minh,&nbsp;Trương Phụ&nbsp;muốn dụ dỗ ông ra làm quan nhưng Nguyễn Trãi từ chối.&nbsp;Trương Phụ&nbsp;tức giận, muốn đem Nguyễn Trãi giết đi nhưng Thượng thư&nbsp;Hoàng Phúc&nbsp;tiếc tài Nguyễn Trãi, tha cho và giam lỏng ở Đông Quan, không cho đi đâu.<sup data-original-title="^ a ă â b Phan Huy Chú 1961, tr. 192" title="">4</sup>&nbsp;. Ông lòng giận quân Minh tham độc,&nbsp;<i>muốn tìm vị chân chúa để thờ nhưng chưa biết tìm ở đâu, bèn trốn đi</i>. Đêm ngủ ở quán Trấn Vũ cầu mộng, được&nbsp;<i>thần</i>&nbsp;báo cho tên họ&nbsp;Lê Thái Tổ, bèn vào Lam Sơn tham gia khởi nghĩa.</li>
	<li>Trần Huy Liệu&nbsp;trong sách&nbsp;<i>Nguyễn Trãi</i>&nbsp;cũng ghi lại tương đối giống vậy, nhưng dè dặt hơn, ông nhận xét&nbsp;<i>Hiện nay vẫn chưa đủ tài liệu để khẳng định dứt khoát rằng trong khoảng thời gian từ năm 1407 đến năm 1417, Nguyễn Trãi ở luôn Đông Quan hay có đi đâu không&nbsp;?</i>&nbsp;<sup data-original-title="^ a ă â Trần Huy Liệu 1966, tr. 21" title="">12</sup>&nbsp;. Theo ý kiến khác của&nbsp;Trần Huy Liệu&nbsp;dựa theo các bài thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Trãi đã sang Trung Quốc ở thời gian này, dựa vào các địa điểm trong thơ ông viết:<sup data-original-title="^ a ă â Trần Huy Liệu 1966, tr. 21" title="">12</sup>&nbsp;, dựa trên một số bài thơ của ông có nhắc đến các địa danh ở Trung Quốc như&nbsp;<i>Bình Nam<sup id="ref_anone">&#91;a&#93;</sup>&nbsp;dạ bạc</i>&nbsp;(Đêm đỗ thuyền ở Bình Nam),&nbsp;<i>Ngô Châu</i><sup id="ref_bnone">&#91;b&#93;</sup>,&nbsp;<i>Giang Tây</i>,&nbsp;<i>Thiều Châu Văn Hiến miếu</i><sup id="ref_cnone">&#91;c&#93;</sup>(Thăm miếu thờ ông Văn Hiến ở Thiều Châu),&nbsp;<i>Đồ trung ký hữu</i>&nbsp;(Trên đường gửi bạn)...</li>
	<li>Theo Nguyễn Lương Bích trong sách&nbsp;<i>Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước</i>, dựa trên văn thơ của Nguyễn Trãi để lại và một vài ghi chép của&nbsp;Lê Quý Đôn&nbsp;trong&nbsp;<i>Toàn Việt thi lục</i>&nbsp;nói&nbsp;<i>Nhà Hồ mất, ông về ở ẩn</i>&nbsp;và&nbsp;Phạm Đình Hổ&nbsp;trong Tang thương ngẫu lục viết&nbsp;<i>Nhà Hồ mất, ông tránh loạn ở Côn Sơn</i>, Nguyễn Lương Bích khẳng định sau cuộc kháng chiến thất bại của&nbsp;Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi đã đi lánh nạn trong một khoảng thời gian khá dài chứ không hề bị quân Minh bắt giữ. Ông đã từng lánh ở Côn Sơn và sau đó còn chu du ở nhiều nơi khác nữa<sup data-original-title="^ Nguyễn Lương Bích 1973, tr. 62-63" title="">15</sup>&nbsp;. Theo Nguyễn Lương Bích:<i>Những tư tưởng chính trị, quân sự ưu tú cùng nhiều quan điểm đạo đức, triết học của ông đã được củng cố và phát triển tốt đẹp trong thời kỳ này. Trên cơ sở của thực tiễn cuộc sống và những kinh nghiệm chiến đấu của các thời đại, đồng thời cũng rút ra từ tư tưởng nhân nghĩa của ông, Nguyễn Trãi đã xây dựng cho mình những quan điểm đúng đắn về khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược.<sup data-original-title="^ Nguyễn Lương Bích 1973, tr. 79-80" title="">16</sup>&nbsp;.</i></li>
</ul>
<a name="tham-gia-khoi-nghia-lam-son"></a>

<h3>Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn</h3>
<a name="yet-kien-o-loi-giang"></a>

<h4>Yết kiến ở Lỗi Giang</h4>

<p>Các tài liệu, Lịch triều hiến chương loại chí, Ức Trai thi tập Bài thơ Minh Lương của&nbsp;Lê Thánh Tông, Chế văn của vua Tương Dực Đế, Kiến văn tiểu lục, Việt sử thông giám cương mục, Sơn Nam lịch triều đăng khoa khảo và Lịch triều đăng khoa bi khảo chép rằng Nguyễn Trãi yết kiến&nbsp;Lê Lợi&nbsp;tại địa điểm Lỗi Giang, nhưng không ghi năm nào.<sup data-original-title="^ Suy ngẫm về 20 năm, một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỷ XV, Nguyễn Diên Niên, Nhà xuất bản tri thức, 2013, tr 112, 113, 114, 115, 116, 117" title="">17</sup>.</p>

<ul>
	<li>Theo&nbsp;Lê Quý Đôn&nbsp;trong Đại Việt thông sử, Nguyễn Trãi gia nhập lực lượng của&nbsp;Lê Lợi&nbsp;<i>trước</i>&nbsp;thời điểm khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ (đầu năm 1418)<sup data-original-title="^ Lê Quý Đôn 1978, tr. 33" title="">18</sup></li>
	<li>Theo&nbsp;Trần Trọng Kim&nbsp;viết trong Việt Nam sử lược thì Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420. Việt Nam sử lược, chương XIV (Mười năm đánh quân Tàu), đoạn số 6 viết: &quot;Khi Bình Định Vương về đánh ở Lỗi Giang, thì có ông Nguyễn Trãi, vào yết kiến, dâng bài sách bình Ngô, vua xem lấy làm hay,dùng ông ấylàm tham mưu&quot;. Trước đó, đoạn số 5 viết rằng &quot; Năm Canh Tí (1420)Bình Định Vương đem quân ra đóng ở làng Thôi...Vương lại đem quân đóng ở Lỗi Giang&quot;</li>
	<li>Theo&nbsp;Hoàng Xuân Hãn, Đặng Nghiêm Vạn,&nbsp;Phan Huy Lê&nbsp;cho rằng Nguyễn Trãi đã có mặt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ hội thề Lũng Nhai vào năm 1416<sup data-original-title="^ Hoàng Xuân Hãn 1966, tr. 3-23. Đặng Nghiêm Vạn 1967, tr. 42-49. Phan Huy Lê trong sách Khởi nghĩa Lam Sơn (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1988) cũng ghi tên Nguyễn Trãi vào danh sách người dự hội thề Lũng Nhai." title="">19</sup>&nbsp;.</li>
	<li>Theo&nbsp;Trần Huy Liệu, Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420<sup data-original-title="^ a ă Trần Huy Liệu 1960, tr. 22" title="">20</sup>&nbsp;hoặc 1421 hay sau đó một chút<sup data-original-title="^ a ă Nguyễn Lương Bích 1967, tr. 23-38" title="">14</sup>&nbsp;<sup data-original-title="^ Nhị Khê Nguyễn tộc thế phả, thế phả của họ Nguyễn Nhị Khê" title="">21</sup>&nbsp;.</li>
	<li>Theo Nguyễn Diên Niên căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, những tư liệu được chép cùng thời thì thời kỳ&nbsp;Lê Lợi&nbsp;hoạt động buổi đầu ở vùng Thượng du Thanh Hóa (1418-1424) chưa có sự tham gia của Nguyễn Trãi. Các sách trên đều có đoạn rằng:<i>Nguyên trước Nhà vua kinh-doanh việc bốn phương, Bắc đánh giặc Minh, Nam đuổi quân Lào, mình trải trăm trận, đến đâu được đấy, chỉ dùng có quan võ là bọn&nbsp;Lê Thạch,&nbsp;Lê Lễ,&nbsp;Lê Sát, Lê Vấn, Lê Lý,&nbsp;Lê Ngân, ba mươi lăm người; quan văn là bọn Lê văn Linh, Lê quốc Hưng; cùng những quân-thân như cha, con; hai trăm thiết-kỵ, hai trăm nghĩa-sĩ, hai trăm dũng-sĩ và mười bốn thớt voi. Còn bọn chuyên-chở lương-thảo, cùng già yếu đi hộ-vệ vợ con, cũng chỉ hai nghìn người mà thôi.</i>. Địa điểm Lỗi Giang mà Nguyễn Trãi ra mắt là năm 1426.<sup data-original-title="^ Suy ngẫm về 20 năm, một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỷ XV, Nguyễn Diên Niên, Nhà xuất bản tri thức, 2013, tr 107" title="">22</sup>&nbsp;.</li>
</ul>

<p>Việc ra mắt&nbsp;Lê Lợi, các sách sử cùng thời đại đó như Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục không chép; thời hiện đại một số nhà nghiên cứu đã trích dẫn từ sách Toàn việt thi lục của&nbsp;Lê Quý Đôn, từ phần họ gọi là&nbsp;<i>Tiểu chú về Nguyễn Trãi</i>, trích rằng Nguyễn Trãi trao cho&nbsp;Lê Lợi&nbsp;Bình Ngô sách, trong đó Nguyễn Trãi vạch ra ba kế sách đánh quân Minh, sách nay không còn.<sup data-original-title="^ a ă Lê Quý Đôn, Toàn Việt thi lục, tiểu chú về Nguyễn Trãi" title="">23</sup>&nbsp;mà chủ yếu là&nbsp;<i>tâm công</i>, đánh vào lòng người để đi đến chiến thắng<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007" title="">24</sup>&nbsp;Sau khi xem Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi được&nbsp;Lê Lợi&nbsp;phong cho chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện<sup data-original-title="^ a ă Lê Quý Đôn, Toàn Việt thi lục, tiểu chú về Nguyễn Trãi" title="">23</sup>&nbsp;, ngày đêm dự bàn việc quân.</p>
<a name="tham-gia-khoi-nghia-lam-son"></a>

<h4>Tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn</h4>

<p>Các sử gia&nbsp;Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bích đã dùng cuốn Tang thương ngẫu lục, cuốn sách mang tính truyền kỳ trong dân gian để nghiên cứu. Sách chép rằng Nguyễn Trãi đề xuất mộtkế nhằm tuyên truyền thanh thế cho nghĩa quân Lam Sơn. Ông dùng nước cơm trộn mật<sup data-original-title="^ a ă “Đinh tộc ngọc phả (phần bốn)”. Đinh Xuân Vinh. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. " title="">25</sup>&nbsp;(hoặc mỡ<sup data-original-title="^ a ă Trần Huy Liệu 1960, tr. 22" title="">20</sup>&nbsp;) viết vào lá cây tám chữ&nbsp;<i>Lê Lợi&nbsp;vi quân, Nguyễn Trãi vi thần</i>&nbsp;(黎利為君, 阮廌為臣)<sup data-original-title="^ Nhị Khê Nguyễn tộc thế phả chép là Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần. Gia phả của nhà Lưu Nhân Chú ghi rằng chính cha Lưu Nhân Chú là Lưu Trung, anh rể Lưu Nhân Chú là Phạm Cuống và Lưu Nhân Chú mới là người nghĩ và thi hành kế này" title="">26</sup>&nbsp;, nghĩa là&nbsp;<i>Lê Lợi&nbsp;làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi</i>, với ý đồ khiến kiến ăn mỡ khoét thành chữ trên mặt lá, rồi lá theo dòng nước trôi đi các ngả như tin báo từ trên trời xuống. Tuy vậy, một số tướng lĩnh khác như&nbsp;Lê Sát, Phạm Vấn,&nbsp;Lê Thụ&nbsp;bất bình vì cho rằng Nguyễn Trãi quá cao ngạo và coi thường họ, những người đã chịu nhiều lao khổ từ khi cuộc khởi nghĩa còn trong trứng nước.&nbsp;Đinh Liệt&nbsp;hoà giải mâu thuẫn bằng cách đề nghị Nguyễn Trãi đổi lại thành&nbsp;<i>Lê Lợi&nbsp;vi quân, bách tính vi thần</i>&nbsp;(黎利為君, 百姓為 臣), nghĩa là&nbsp;<i>Lê Lợi&nbsp;làm vua, trăm họ làm tôi</i><sup data-original-title="^ a ă “Đinh tộc ngọc phả (phần bốn)”. Đinh Xuân Vinh. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. " title="">25</sup>&nbsp;. Thế là tin Lam Sơn khởi nghĩa truyền đi khắp nơi, khiến cho mọi người hết sức tin tưởng vào tương lai của nghĩa quân.<sup data-original-title="^ name=nt3&amp;gt;Trần Huy Liệu 1966, tr. 110" title="">27</sup></p>

<p>Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, từ năm 1418 cho đến năm 1426 sách không chép gì về Nguyễn Trãi, cho đến năm 1426, khi&nbsp;Lê Lợi&nbsp;phát binh ra Đông Quan, Nguyễn Trãi mới xuất hiện lần đầu tiên.<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 114" title="">28</sup>&nbsp;.</p>

<p>Tháng 9 năm 1426,&nbsp;Lê Lợi&nbsp;chia một bộ phận nghĩa quân Lam Sơn chia làm ba hướng, tấn công ra bắc và thắng quân Minh ở Tốt Động - Chúc Động. Bình Định Vương nghe báo tin, bèn tiến gấp ra Đông Quan. Đầu năm 1427,&nbsp;Lê Lợi&nbsp;phong cho Nguyễn Trãi làm Triều liệt Đại phu Nhập nội Hành khiển Lại bộ Thượng thư, kiêm chức Hành Khu mật viện sự, đây là lần xuất hiện đầu tiên của sách Đại Việt sử ký toàn thư về Nguyễn Trãi khi ông tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn.&nbsp;Lê Lợi&nbsp;sai dựng một toà lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề, trên bờ&nbsp;sông Hồng, cao ngang tháp Báo Thiên, hàng ngày ngồi trên lầu trông vào thành Đông Quan xem xét hoạt động của quân Minh; Nguyễn Trãi ngồi hầu ở ngay tầng dưới để bàn luận quân cơ và thảo thư từ đi lại<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 30 và Lê Quý Đôn 2007, tr. 66" title="">29</sup>&nbsp;. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép nguyên văn như sau:</p>

<table role="presentation">
	<tbody>
		<tr>
			<td>“</td>
			<td><i>Bấy giờ, vua dựng lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ&nbsp;sông Lô&nbsp;(Khi ấy, có hai cây bồ đề ở trong dinh, nên gọi là dinh Bồ Đề), cao bằng tháp Báo Thiên, hằng ngày vua ngự trên lầu nhìn vào thành để quan sát mọi hành vi của giặc, cho Trãi ngồi hầu ở tầng hai, nhận lệnh soạn thảo thư từ qua lại</i></td>
			<td>”</td>
		</tr>
		<tr>
			<td colspan="3">— Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ.</td>
		</tr>
	</tbody>
</table>

<p>Sách Đại Việt thông sử chép nguyên văn như sau:</p>

<blockquote>
<p><i>Phong cho viên Hàn Lâm Viện Thừa chỉ học sĩ là Nguyễn Trãi chức “Triều liệt đại phu nhập nội hành khiển, Lại bộ Thượng thư, kiêm Cơ Mật viện”. Hoàng đế sai dựng một cái lầu mấy tầng trong dinh Bồ Đề, hằng ngày ngài ngự tại từng lầu trên cùng, để trông vào thành bên địch, cho Nguyễn Trãi ngồi ở tầng lầu dưới, để bàn luận cơ mưu hầu ngài, và thảo những thư từ gởi tới.</i><sup data-original-title="^ Đại Việt thông sử, quyển 1, Đế kỷ đệ nhất" title="">30</sup></p>
</blockquote>

<p>Tại đây, Nguyễn Trãi đã viết hàng chục bức thư gửi vào thành Đông Quan chiêu dụ Vương Thông, gửi đi Nghệ An chiêu dụ Thái Phúc cũng như dụ hàng các tướng lĩnh&nbsp;nhà Minh&nbsp;ở Tân Bình, Thuận Hoá và một số thành trì khác. Kết quả đạt được rất khả quan: các thành Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá ra hàng đầu năm 1427<sup data-original-title="^ Lê Quý Đôn 2007, tr. 64" title="">31</sup>&nbsp;. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã từng cùng với viên chỉ huy họ Tăng vào dụ hàng thành Tam Giang, khiến Chỉ huy sứ thành này là Lưu Thanh ra hàng vào khoảng tháng 4 năm 1427. Ông cũng đã đem thân vào dụ hàng thành Đông Quan năm lần<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007, tr. 50, dẫn lại từ Ức Trai thi tập tự của Trần Khắc Kiệm" title="">32</sup>&nbsp;Quân Minh ở Giao Chỉ càng bị cô lập nhanh chóng, chỉ còn cố thủ được ở một số thành như Đông Quan, Cổ Lộng, Tây Đô... mà thôi<sup data-original-title="^ Nguyễn Trãi 1976, tr. 64" title="">33</sup>&nbsp;.</p>

<p>Cuối năm 1427, Minh Tuyên Tông xuống chiếu điều binh cứu viện Vương Thông, sai Liễu Thăng đem 10 vạn quân từ Quảng Tây, Mộc Thạnh đem 5 vạn quân từ Vân Nam, cùng tiến quân sang Việt Nam. Với trận Chi Lăng - Xương Giang, hai đạo viện binh của&nbsp;nhà Minh&nbsp;với số lượng lên tới hơn 10 vạn quân đã bị quân Lam Sơn tiêu diệt hoàn toàn.<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điển tử, trang 351" title="">34</sup></p>

<p>Tháng 11, năm 1427, tổng binh Vương Thông và nội quan Sơn Thọ&nbsp;nhà Minh&nbsp;sai viên thiên hộ họ Hạ mang thư đến giảng hoà, xin mở cho đường về.&nbsp;Lê Lợi&nbsp;chấp nhận, lại gởi tặng thổ sản và hải sản. Dẫu vậy, Vương Thông vấn do dự, chưa quyết, đem quân ra đánh, bị nghĩa quân đánh bại, suýt bị bắt sống.<sup data-original-title="^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điển tử, trang 351, 352" title="">35</sup>&nbsp;Ngày 22, tháng 11, năm 1427 (Đinh Mùi), Vương Thông và&nbsp;Lê Lợi&nbsp;tiến hành Hội thề Đông Quan ở cửa nam thành, hẹn đến ngày 12, tháng 12 năm Đinh Mùi sẽ rút hết quân về nước. Lúc bấy giờ, một số tướng sĩ đến yết kiến và khuyên&nbsp;Lê Lợi&nbsp;nên đánh thành Đông Quan, giết hết quân Minh để trả thù cho sự bạo ngược mà người Minh đã gây nên ở Đại Việt. Nhưng ý kiến của Nguyễn Trãi thì lại khác. Sách&nbsp;<i>Đại Việt sử ký Bản kỉ thực lục</i>, quyển X, tờ 44a-44b ghi rằng:</p>

<table role="presentation">
	<tbody>
		<tr>
			<td>“</td>
			<td>
			<p><i>Duy có hành khiển Nguyễn Trãi ở nơi tham mưu, được xem thư bọc sáp của &#91;Vương&#93; Thông gửi về nước nói &quot;Chớ tham chỗ đất một góc mà làm nhọc quân đi muôn dặm; giả sử dùng quân được như số quân đi đánh khi đầu, lại được sáu, bảy, tám đại tướng như bọn&nbsp;Trương Phụ&nbsp;thì mới có thể đánh được; tuy nhiên có đánh được cũng không thể giữ được&quot;, nên biết rõ thế mạnh yếu của giặc, mới chuyên chủ mặt chủ hoà. Vua &#91;Lê Thái Tổ&#93; nghe theo và hạ lệnh cho các quân giải vây lui ra<sup data-original-title="^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điển tử, trang 351, 352" title="">35</sup>&nbsp;<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 47-48" title="">36</sup>&nbsp;.</i></p>
			</td>
			<td>”</td>
		</tr>
		<tr>
			<td colspan="3">— Đại Việt sử ký toàn thư</td>
		</tr>
	</tbody>
</table>

<p>Lê Lợi&nbsp;nghe theo cho quân giải vây rút ra. Khi quân Minh sắp rút đi, một số tướng khuyên&nbsp;Lê Lợi&nbsp;nên đánh thêm một trận để cho giặc không dám sang nữa nhưng&nbsp;Lê Lợi&nbsp;không đồng ý, quân Minh rút về nước an toàn. Năm 1428,&nbsp;nhà Hậu Lê&nbsp;hình thành.<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điển tử, trang 351, 352, 353, 354" title="">37</sup></p>
<a name="phong-thuong"></a>

<h4>Phong thưởng</h4>

<p>Vua&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;có 2 đợt phong thưởng chính, lần một vào tháng 2, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) cho những Hỏa thủ và quân nhân Thiết đột ở Lũng Nhai, gồm 121 người. Lần 2, vào tháng 5, năm Thuân Thiên thứ 2 (1429), ban biển ngạch công thần cho 93 viên. Đợt phong thưởng lần 2 có tên của Nguyễn Trãi.<sup data-original-title="^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điển tử, trang 361, 362, 366" title="">38</sup></p>

<p>Vào tháng 3, năm 1428, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng:&nbsp;<i>Đại hội các tướng và các quan văn võ để định công, ban thưởng, xét công cao thấp mà định thứ bậc. Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu; tư đồ Trần Hãn làm Tả tướng quốc; Khu mật đại sứ&nbsp;Phạm Văn&nbsp;Xảo làm Thái Bảo; đều được ban quốc tính.</i>&nbsp;<sup data-original-title="^ a ă Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điển tử, trang 361, 362, 366" title="">38</sup></p>

<p>Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1429,&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;sai khắc biển công thần, ông được phong tước Quan phục hầu.<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển 10" title="">39</sup>&nbsp;.</p>

<p>Phong thưởng có tất cả chín bậc, Thứ nhất: Huyện thượng hầu; Thứ hai: Á thượng hầu; Thứ ba: Hương thượng hầu; Thứ tư: Đình thượng hầu; Thứ năm: Huyện hầu; Thứ sáu: Á hầu; Thứ bảy: Quan nội hầu; Thứ tám: Quan phục hầu; Thứ chín: Trước phục hầu. Nguyễn Trãi ở bậc thứ 8.</p>
<a name="van-than-trieu-le"></a>

<h3>Văn thần triều Lê</h3>
<a name="trieu-vua-le-thai-to"></a>

<h4>Triều vua&nbsp;Lê Thái Tổ</h4>

<p>Đầu năm 1428, ngay cả khi chưa chính thức lên ngôi vua, Bình Định Vương đã đại hội các tướng và các quan văn võ, định công ban thưởng. Nguyễn Trãi được ban cho quốc tính (họ Lê) và tước Quan phục hầu, tiếp tục giữ chức Nhập nội Hành khiển như cũ, được khắc tên trên biển Khai quốc công thần<sup data-original-title="^ Quan Phục hầu là chức thấp nhất trong báng phong thần, xếp thứ 9" title="">40</sup>&nbsp;<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 60" title="">41</sup>&nbsp;<sup data-original-title="^ Trong Băng Hồ di sự lục do Nguyễn Trãi viết vào tháng 11 âm lịch năm 1429 thì chức tước đầy đủ của ông là Tuyên phong Đại phu, Nhập nội Hành khiển Môn hạ (sảnh) Hữu Gián nghị Đại phu, Đồng Trung thư lệnh sự, ban cho kim tử ngư đại, Thượng hộ quốc, Quan phục hầu, cho quốc tính, Lê Trãi" title="">42</sup>&nbsp;. Ngày 29 tháng 4 năm 1428,&nbsp;Lê Lợi&nbsp;làm lễ lên ngôi ở&nbsp;điện Kính Thiên&nbsp;tại Đông Kinh, đại xá thiên hạ, giao cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để bố cáo với cả nước về việc chiến thắng quân Minh<sup data-original-title="^ Lê Quý Đôn 2007, tr. 89" title="">43</sup>&nbsp;.</p>

<table>
	<tbody>
		<tr>
			<td><span aria-label="Bình Ngô đại cáo ảnh widget" contenteditable="false" role="region" tabindex="-1"><img loading="lazy" alt="Bình Ngô đại cáo" src="http://nguoikesu.com/images/wiki/nguyen-trai/6bbe8d2037f461b1109dd0949eaa96cb.jpg" //><span style="background:rgba(220,220,220,0.5);background-image:url(http://honguyenvietnam.org/vi/assets/editors/ckeditor/plugins/widget/images/handle.png)"><img loading="lazy" draggable="true" height="15" role="presentation" src="https://honguyenvietnam.org/data:image/gif;base64,R0lGODlhAQABAPABAP///wAAACH5BAEKAAAALAAAAAABAAEAAAICRAEAOw==" title="Nhấp chuột và kéo để di chuyển" width="15" //></span><span title="Kéo rê để thay đổi kích cỡ">​</span></span><span aria-label="Bình Ngô đại cáo ảnh widget" contenteditable="false" role="region" tabindex="-1"><img loading="lazy" alt="Bình Ngô đại cáo" src="http://nguoikesu.com/images/wiki/nguyen-trai/841aef8a9dd7aa8ed1bdabb9c824f9cf.jpg" //><span style="background:rgba(220,220,220,0.5);background-image:url(http://honguyenvietnam.org/vi/assets/editors/ckeditor/plugins/widget/images/handle.png)"><img loading="lazy" draggable="true" height="15" role="presentation" src="https://honguyenvietnam.org/data:image/gif;base64,R0lGODlhAQABAPABAP///wAAACH5BAEKAAAALAAAAAABAAEAAAICRAEAOw==" title="Nhấp chuột và kéo để di chuyển" width="15" //></span><span title="Kéo rê để thay đổi kích cỡ">​</span></span><span aria-label="Bình Ngô đại cáo ảnh widget" contenteditable="false" role="region" tabindex="-1"><img loading="lazy" alt="Bình Ngô đại cáo" src="http://nguoikesu.com/images/wiki/nguyen-trai/a935098a6a24e9123b3c5195d8887616.jpg" //><span style="background:rgba(220,220,220,0.5);background-image:url(http://honguyenvietnam.org/vi/assets/editors/ckeditor/plugins/widget/images/handle.png)"><img loading="lazy" draggable="true" height="15" role="presentation" src="https://honguyenvietnam.org/data:image/gif;base64,R0lGODlhAQABAPABAP///wAAACH5BAEKAAAALAAAAAABAAEAAAICRAEAOw==" title="Nhấp chuột và kéo để di chuyển" width="15" //></span><span title="Kéo rê để thay đổi kích cỡ">​</span></span><span aria-label="Bình Ngô đại cáo ảnh widget" contenteditable="false" role="region" tabindex="-1"><img loading="lazy" alt="Bình Ngô đại cáo" src="http://nguoikesu.com/images/wiki/nguyen-trai/b635a17f41c2c1aba57e5cd9a29dba8a.jpg" //><span style="background:rgba(220,220,220,0.5);background-image:url(http://honguyenvietnam.org/vi/assets/editors/ckeditor/plugins/widget/images/handle.png)"><img loading="lazy" draggable="true" height="15" role="presentation" src="https://honguyenvietnam.org/data:image/gif;base64,R0lGODlhAQABAPABAP///wAAACH5BAEKAAAALAAAAAABAAEAAAICRAEAOw==" title="Nhấp chuột và kéo để di chuyển" width="15" //></span><span title="Kéo rê để thay đổi kích cỡ">​</span></span></td>
		</tr>
		<tr>
			<td align="center">Nguyên văn &quot;Bình Ngô đại cáo&quot;<br  />
			Trích trong&nbsp;Hoàng Việt&nbsp;Văn Tuyển phát hành năm 1825, bản lưu trữ tại thư viện Quốc gia Việt Nam</td>
		</tr>
	</tbody>
</table>

<p>Chính sử&nbsp;nhà Lê&nbsp;không nói đến việc Nguyễn Trãi bị bắt và hạ ngục. Trong Tang thương ngẫu lục, Dương Bá Cung cho biết Nguyễn Trãi &quot;từng có việc bị hạ ngục rồi lại được tha&quot;. Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi có bài &quot;Oan thán&quot; về việc bị hạ ngục cho chúng ta biết rằng Nguyễn Trãi bị bắt vào hồi ông năm mươi tuổi tức vào khoảng năm Thuận Thiên thứ hai (1429) năm&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;bắt&nbsp;Trần Nguyên Hãn. Rất có thể là Nguyễn Trãi bị nghi ngờ có liên quan đến&nbsp;Trần Nguyên Hãn, nên bị bắt, sau lại được thả ra<sup data-original-title="^ Nguyễn Trãi toàn tập, trang 16" title="">44</sup>&nbsp;.</p>

<p>Trong Toàn Việt thi lục,&nbsp;Lê Quý Đôn&nbsp;có viết rằng: &quot;Thái Tông lên ngôi thì do cố mệnh của Thái Tổ mà Nguyễn Trãi phụ chính&quot;. Câu này cho thấy rằng, trước khi chết,&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;đã dặn Thái tử Nguyên Long phải đặt Nguyễn Trãi lên một chức vị xứng đáng.&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;đã làm đúng như lời cha dặn.<sup data-original-title="^ a ă Nguyễn Trãi toàn tập, trang 17" title="">45</sup>&nbsp;.</p>

<p>Năm 1433,&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;mất, an táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn.&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;xuống sắc chỉ sai Nguyễn Trãi, với tư cách là Vinh lộc Đại phu Nhập nội Hành khiển tri Tam quán sự, soạn văn bia&nbsp;<i>Vĩnh Lăng thần đạo bi</i><sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 78" title="">46</sup>&nbsp;.</p>
<a name="trieu-vua-le-thai-tong"></a>

<h4>Triều vua&nbsp;Lê Thái Tông</h4>

<p>Ngày 21 tháng 2 năm 1434,&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;bổ nhiệm 156 quan viên lớn nhỏ, trong số đó có Nguyễn Trãi<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 81" title="">47</sup>&nbsp;..<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 104 ghi rằng vua không chấp nhận đề nghị này của các quan đại thần. Tuy vậy, trong Ức Trai di tập tự của Trần Khắc Kiệm ghi chức quan của Nguyễn Trãi có chép là ông hầu giảng toà Kinh Diên và cầm đầu Ngũ kinh Bác sĩ" title="">48</sup>&nbsp;. Năm 1435, Nguyễn Trãi dâng lên vua sách&nbsp;<i>Dư địa chí</i>, trong đó ông ghi chép khá đầy đủ về bờ cõi hành chính nước Đại Việt thời đó<sup data-original-title="^ Nguyễn Trãi 1976, tr. 211. Trần Văn Giáp trong Ức Trai quân trung từ mệnh tập bổ biên, Tài liệu đánh máy, Thư viện Quốc gia Việt Nam cho rằng sách Dư địa chí nằm trong một bộ sách có nhan đề Quốc thư bảo huấn và phỏng đoán rằng đây có thể là một bộ sử lớn, bách khoa thư hoặc tùng thư" title="">49</sup>&nbsp;.</p>

<p>Tháng 5, năm 1434 Nguyễn Trãi đang giữ chức Hành khiển, soạn xong tờ tâu để Nguyễn Tông Trụ mang sang đưa lên vua Minh, bị Nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ, Học sĩ Lê Cảnh Xước, Đại tư đồ Sát và Đô đốc Phạm Vấn phản đối và trách cứ và đòi sửa chữa. Nguyễn Trãi kiên quyết giữ chủ kiến của mình, cuối cùng&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;vẫn theo như bản tâu của ông, không thay đổi.<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 378" title="">50</sup>&nbsp;Tháng 12, năm 1434, Nguyễn Trãi cùng các đại thần theo vua&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;làm lễ rước thần chủ mới của Thái Tổ và Quốc thái mẫu vào thờ ở Thái miếu<sup data-original-title="^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993, bản điện tử, trang 384" title="">51</sup>&nbsp;.</p>

<p>Năm 1435, tháng 6, Đại tư đồ&nbsp;Lê Sát&nbsp;tiến cử Nguyễn Trãi và một số viên quan khác vào dạy học cho&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;ở toà Kinh Diên nhưng vua&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;không chấp thuận<sup data-original-title="^ Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, trang 276 Nhà xuất bản giáo dục 2006" title="">52</sup>&nbsp;<sup data-original-title="^ Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976,trang 243" title="">53</sup></p>

<p>Trong vụ án bảy tên trộm vào tháng 3 năm 1435, ông tranh cãi với&nbsp;Lê Sát&nbsp;và&nbsp;Lê Ngân&nbsp;về việc xử lý bảy tên ăn trộm ít tuổi can tội tái phạm. Ông khuyên&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;nên nhân nghĩa, nhưng khi&nbsp;Lê Sát&nbsp;và&nbsp;Lê Ngân&nbsp;đề nghị ông dùng nhân nghĩa cảm hóa kẻ trộm thì ông từ chối. Cuối cùng xử chém 2 tên, còn lại thì xử đi đày.<sup data-original-title="^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 11" title="">54</sup></p>

<p>Trước đây,&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;đã sai Nguyễn Trãi định ra quy chế mũ áo nhưng chưa kịp thi hành. Tháng 2 năm 1437, vua&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;lại sai Nguyễn Trãi cùng với Lương Đăng sửa định nhã nhạc và qui chế lễ nghi trong triều đình. Nguyễn Trãi đã dâng lên bản vẽ khánh đá và biểu tâu, vua Thái Tông khen ngợi và tiếp nhận sai thợ đá huyện Giáp Sơn lấy đá ở núi Kính Chủ để làm<sup data-original-title="^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 11" title="">54</sup>&nbsp;. Nhưng đến tháng 5, năm 1437, Lương Đăng dâng sớ thư về quy chế có nhiều ý kiến khác với Nguyễn Trãi ở những chỗ bàn về số lượng, trọng lượng các nhạc khí. Vua Thái Tông lựa chọn đề nghị của Lương Đăng, nên Nguyễn Trãi tâu xin trả lại việc đã được giao phó<sup data-original-title="^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 11" title="">54</sup>&nbsp;. Tháng 11 năm 1437, vua&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;cho ban bố các nghi thức lễ đại triều do Lương Đăng soạn định với triều đình, Nguyễn Trãi cùng một nhóm văn thần như Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Nguyễn Liễu, Nguyễn Truyền dâng sớ phản đối, nhưng không có kết quả.</p>

<p>Khoảng cuối năm 1437, đầu năm 1438, Nguyễn Trãi xin về hưu trí ở Côn Sơn<sup data-original-title="^ a ă â Trần Huy Liệu 1966, tr. 29" title="">55</sup>&nbsp;- nơi trước kia từng là thái ấp của ông ngoại ông - chỉ thỉnh thoảng mới vâng mệnh vào chầu vua<sup data-original-title="^ a ă â b Phan Huy Chú 1961, tr. 192" title="">4</sup>&nbsp;.</p>

<p>Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, sau khi không hợp với Lương Đăng về việc nhạc, ông đã xin về quê hưu trí. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng không chép ông làm gì sau thời gian này, đến năm 1442, sách mới chép việc ông mời vua&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;về ngự ở Côn Sơn. Theo nghiên cứu của&nbsp;Trần Huy Liệu, căn cứ vào biểu tạ ơn của Nguyễn Trãi, năm 1439,&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;mời ông ra làm quan, ban cho chức tước là Vinh lộc Đại phu, Nhập nội Hành khiển Môn hạ sảnh Tả ty Hữu Gián nghị Đại phu kiêm Hàn Lâm viện Học sĩ Tri Tam quán sự Đề cử Côn Sơn Tư Phúc tự<sup data-original-title="^ Nguyễn Trãi 1976, tr. 204. Chức Đề cử Tư Phúc tự (trông coi chùa Côn Sơn) có lẽ được Lê Thái Tông ban cho Nguyễn Trãi vào khoảng mười năm thanh chức,, tức khoảng năm 1430 đến những năm 1440" title="">56</sup>&nbsp;. Ông cũng được giao cho việc coi giữ sổ sách, xét án kiện quân dân ở Tây đạo và Bắc đạo<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007, tr. 50, dẫn lại từ Trần Khắc Kiệm, Ức Trai di tập tự. Trần Huy Liệu 1966, tr. 29 thì ghi hai đạo là Đông đạo và Bắc đạo" title="">57</sup>&nbsp;. Nguyễn Trãi nhận mệnh vua, dâng biểu tạ ơn với sự hả hê thấy rõ.&nbsp;Trần Huy Liệu&nbsp;cho rằng đây là những năm đắc chí nhất của Nguyễn Trãi<sup data-original-title="^ a ă â Trần Huy Liệu 1966, tr. 29" title="">55</sup>&nbsp;. Trong khoa thi Hội năm 1442, Nguyễn Trãi với danh nghĩa là Hàn Lâm viện Học sĩ kiêm Tri Tam quán sự ra làm Giám khảo và lấy đỗ Trạng nguyên&nbsp;Nguyễn Trực<sup data-original-title="^ a ă â Trần Huy Liệu 1966, tr. 29" title="">55</sup>&nbsp;.</p>

<p>Suốt trong thời gian làm quan, lúc nào Nguyễn Trãi cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Không những thơ văn của Nguyễn Trãi, mà các nho sĩ sống cùng thời với ông như&nbsp;Nguyễn Mộng Tuân,&nbsp;Lý Tử Tấn&nbsp;cũng cho ta biết như thế.<sup data-original-title="^ a ă Nguyễn Trãi toàn tập, trang 17" title="">45</sup>&nbsp;.</p>
<a name="vu-an-le-chi-vien"></a>

<h4>Vụ án Lệ Chi Viên</h4>

<p>Tháng 9 năm 1442, vua&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;đi tuần ở miền Đông<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 131" title="">58</sup>&nbsp;. Ngày 1 tháng 9 năm 1442, sau khi nhà vua duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;đi thuyền vào chơi&nbsp;chùa Côn Sơn. Khi trở về Đông Kinh, người thiếp của Nguyễn Trãi là&nbsp;Nguyễn Thị Lộ&nbsp;theo hầu vua. Ngày 7 tháng 9 năm 1442, thuyền về đến Lệ Chi Viên<sup id="ref_enone">&#91;e&#93;</sup>&nbsp;thì vua bị bệnh, thức suốt đêm với&nbsp;Nguyễn Thị Lộ&nbsp;rồi mất. Các quan giấu kín chuyện này, nửa đêm ngày 9 tháng 9 năm 1442 về đến Đông Kinh mới phát tang. Triều đình qui tội&nbsp;Nguyễn Thị Lộ&nbsp;giết vua, bèn bắt bà và Nguyễn Trãi, khép hai người vào âm mưu giết vua. Ngày 19 tháng 9 năm 1442 (tức ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.</p>
<a name="duoc-phuc-hoi-danh-du"></a>

<h3>Được phục hồi danh dự</h3>

<p>Sau khi Nguyễn Trãi chết, đa phần những di cảo thơ văn và trước tác của ông đều bị tiêu hủy. Bản khắc in sách&nbsp;<i>Dư địa chí</i>&nbsp;bị Đại Tư đồ&nbsp;Đinh Liệt&nbsp;sai hủy<sup data-original-title="^ Nguyễn Trãi 1976, tr. 246" title="">59</sup>&nbsp;năm 1447<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007, tr. 45" title="">60</sup>&nbsp;. Nhiều trước tác mất vĩnh viễn đến nay như&nbsp;<i>Luật thư</i><sup data-original-title="^ Lê Quý Đôn 2007, tr. 128" title="">61</sup>&nbsp;,&nbsp;<i>Ngọc đường di cảo</i>,&nbsp;<i>Giao tự đại lễ</i>,... Gia quyến Nguyễn Trãi cũng lưu tán khi biến cố Lệ Chi Viên xảy đến. Theo gia phả họ Nguyễn Nhị Khê, em trai Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Hùng chạy về Phù Khê,&nbsp;huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Nguyễn Phù - một người con của Nguyễn Trãi - chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn. Bà vợ thứ năm của Nguyễn Trãi là Lê thị, đang mang thai, phải trốn về Phương Quất,&nbsp;huyện Kim Môn, Hải Dương. Đặc biệt, bà vợ thứ tư của Nguyễn Trãi là Phạm Thị Mẫn, lúc đó cũng đang mang thai, được người học trò cũ của chồng là&nbsp;Lê Đạt&nbsp;giúp chạy trốn vào xứ Bồn Man, sau về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tại Đây, bà sinh ra&nbsp;Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình,&nbsp;Nguyễn Anh Vũ&nbsp;đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ.</p>

<p>Tháng 8 năm 1464, sau 22 năm, vua&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;đã xuống chiếu chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước hiệu là&nbsp;<b>Tán Trù bá</b>, bãi bỏ lệnh truy sát của triều đình với gia quyến Nguyễn Trãi và ra lệnh bổ dụng con cháu ông làm quan.&nbsp;Nguyễn Anh Vũ&nbsp;khi ấy đi thi đỗ Hương cống, bèn được nhà vua bổ nhiệm làm Tri huyện<sup data-original-title="^ Ngô Sĩ Liên 1968, tr. 189" title="">62</sup>&nbsp;.</p>

<p>Năm 1467,&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Sau khi Nguyễn Trãi bị nạn 70 năm, ngày 8 tháng 8 năm 1512, vua&nbsp;Lê Tương Dực&nbsp;truy tặng Nguyễn Trãi tước&nbsp;<b>Tế Văn hầu</b>, chế văn truy tặng có câu</p>

<table role="presentation">
	<tbody>
		<tr>
			<td>“</td>
			<td><i>Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên</i>
			<p><i>Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế</i></p>

			<p>Dịch là:</p>

			<p><i>Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ</i></p>

			<p><i>Truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau</i><sup data-original-title="^ Lê Quý Đôn 2007, tr. 309" title="">63</sup></p>
			</td>
			<td>”</td>
		</tr>
	</tbody>
</table>
<a name="gia-dinh"></a>

<h2>Gia đình</h2>

<p>Nguyễn Trãi có 5 bà vợ và 7 người con trai<sup data-original-title="^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ &amp;lt;ref&amp;gt; sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gp" title="">64</sup></p>
<a name="vo"></a>

<h3>Vợ</h3>

<ul>
	<li>Bà Trần Thị Thành</li>
	<li>Bà Phùng thị</li>
	<li>Bà Lê thị</li>
	<li>Bà&nbsp;Nguyễn Thị Lộ</li>
	<li>Bà Phạm Thị Mẫn</li>
</ul>
<a name="con"></a>

<h3>Con</h3>

<ul>
	<li>Nguyễn Khuê (con bà Trần Thị)</li>
	<li>Nguyễn Ứng (con bà Trần Thị)</li>
	<li>Nguyễn Phù (con bà Trần Thị)</li>
	<li>Nguyễn Bảng (con bà Phùng Thị)</li>
	<li>Nguyễn Tích (con bà Phùng Thị)</li>
	<li>Nguyễn Anh Vũ&nbsp;(con bà Phạm Thị)</li>
	<li>Ông tổ chi họ Nguyễn ở Quế Lĩnh, Phương Quất,&nbsp;huyện Kinh Môn, Hải Dương (con bà Lê Thị)</li>
</ul>
<a name="tu-tuong-nguyen-trai"></a>

<h2>Tư tưởng Nguyễn Trãi</h2>

<p>Thời hiện đại, một số nhà làm sử ở Việt Nam như Doãn Chính,&nbsp;Phan Huy Lê,&nbsp;Nguyễn Khắc Thuần... đã viết các sách với nội dung mà họ gọi là&nbsp;<i>Tư tưởng Nguyễn Trãi, nay trích lại dưới đây:</i></p>

<p>Nguyễn Trãi được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam<sup data-original-title="^ a ă â b “Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi”. Doãn Chính. " title="">65</sup>&nbsp;, tư tưởng của ông là sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam thời đại&nbsp;nhà Hậu Lê&nbsp;khi mà xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 74" title="">66</sup>&nbsp;, đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam<sup data-original-title="^ a ă â b “Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi”. Doãn Chính. " title="">65</sup>&nbsp;.</p>

<p>Tư tưởng Nguyễn Trãi không được ông trình bày thành một học thuyết có hệ thống<sup data-original-title="^ a ă â b “Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi”. Doãn Chính. " title="">65</sup>&nbsp;hay chứa đựng trong một trước tác cụ thể nào mà được thể hiện rải rác qua các tác phẩm của ông, được phát hiện bằng các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội hiện đại. Nét nổi bật trong tư tưởng Nguyễn Trãi là sự hòa quyện, chắt lọc giữa tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007, tr. 78" title="">67</sup>&nbsp;(trong đó Nho giáo đóng vai trò chủ yếu), có sự kết hợp chặt chẽ với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam lúc đó.</p>
<a name="anh-huong-cua-nho-giao-voi-tu-tuong-nguyen-trai"></a>

<h3>Ảnh hưởng của Nho giáo với tư tưởng Nguyễn Trãi</h3>

<p>Tư tưởng Nguyễn Trãi xuất phát từ Nho giáo, mà cụ thể là Nho giáo Khổng Mạnh<sup data-original-title="^ a ă Trần Huy Liệu 1966, tr. 49" title="">7</sup>&nbsp;. Ông đã vận dụng xuất sắc các tư tưởng Nho giáo vào công cuộc khởi nghĩa, chống lại sự thống trị của&nbsp;nhà Minh&nbsp;lên Việt Nam cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước thời kì đầu&nbsp;nhà Hậu Lê.</p>

<ul>
	<li><b>Tư tưởng nhân nghĩa</b>: Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là nội dung cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học – chính trị của ông. Tư tưởng ấy có phạm vi rộng lớn, vượt ra ngoài đường lối chính trị thông thường, đạt tới mức độ khái quát, trở thành nền tảng, cơ sở của đường lối và chuẩn mực của quan hệ chính trị, là nguyên tắc trong việc quản lý, lãnh đạo quốc gia<sup data-original-title="^ a ă “Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi”. Lương Minh Cừ - Nguyễn Thị Hương. " title="">68</sup>&nbsp;. Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với tư tưởng nhân dân, tinh thần yêu nước, tư tưởng hòa bình là một đường lối chính trị, một chính sách cứu nước và dựng nước. Nhân nghĩa còn được thể hiện ước mơ xây dựng xã hội lý tưởng cho nền&nbsp;<i>thái bình muôn thuở</i>: xã hội Nghiêu Thuấn của Nguyễn Trãi<sup data-original-title="^ a ă “Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi”. Lương Minh Cừ - Nguyễn Thị Hương. " title="">68</sup>&nbsp;. Tất nhiên mơ ước ấy của ông là không tưởng<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 144" title="">69</sup>&nbsp;.</li>
	<li><b>Mệnh trời</b>: Nguyễn Trãi tin ở Trời và ông coi Trời là đấng tạo hóa sinh ra muôn vật. Cuộc đời của mỗi con người đều do mệnh trời sắp đặt. Vận nước, mệnh vua cũng là do trời quy định. Nhưng Trời không chỉ là đấng sinh thành, mà còn có tình cảm, tấm lòng giống như cha mẹ. Lòng hiếu sinh và đạo trời lại rất hòa hợp với tâm lý phổ biến và nguyện vọng tha thiết của lòng người, đó là hạnh phúc, ấm no và thái bình. Nếu con người biết tuân theo lẽ trời, mệnh trời, thì có thể biến yếu thành mạnh, chuyển bại thành thắng. Và ngược lại, theo Nguyễn Trãi, nếu con người không theo ý trời, lòng trời, thì có thể chuyển yên thành nguy và tự rước họa vào thân.<sup data-original-title="^ a ă â b “Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi”. Doãn Chính. " title="">65</sup></li>
	<li><b>Tư tưởng nhân dân</b>: Nguyễn Trãi đầy lòng thương dân, yêu dân và trọng dân. Ông khẳng định nhân dân là lực lượng sản xuất ra vật chất của xã hội và động lực quyết định sự hưng vong của triều đại, đất nước. Ông được coi là nhân vật lịch sử có tư tưởng nhân dân cao quý nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 56" title="">70</sup></li>
	<li><b>Quan điểm sống</b>: Nguyễn Trãi khuyên con người ta nên tu thân theo các tiêu chuẩn Nho giáo: sống trung dung, tuân theo tam cương ngũ thường, đặc biệt là đạo hiếu và đạo trung.</li>
</ul>

<p>Về ảnh hưởng của Nho giáo với tư tưởng Nguyễn Trãi,&nbsp;Trần Đình Hượu&nbsp;cho rằng</p>

<table role="presentation">
	<tbody>
		<tr>
			<td>“</td>
			<td><i>Về hệ thống, tư tưởng nhân sinh của Nguyễn Trãi vẫn thuộc Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoáng đạt, rộng rãi, không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phú hơn, cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó</i></td>
			<td>”</td>
		</tr>
		<tr>
			<td colspan="3">— Trần Đình Hượu</td>
		</tr>
	</tbody>
</table>
<a name="anh-huong-cua-phat-giao-va-dao-giao-voi-tu-tuong-nguyen-trai"></a>

<h3>Ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo với tư tưởng Nguyễn Trãi</h3>

<p>Ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi chủ yếu qua các tác phẩm thơ văn của ông với nội dung khuyên răn luân lý. Ông khuyên con người ta không coi trọng vật chất mà nên sống với chữ đức, hiểu được giá trị bền vững của đạo đức, coi trọng danh dự và sự giàu có về tâm hồn hơn là sự giàu có về tiền bạc. Danh lợi là&nbsp;<i>sắc không</i>, đạo đức mới là&nbsp;<i>của chầy</i>. Muốn có đạo đức thì phải làm điều thiện, sống có hiếu, có khí tiết, không uốn mình, không cầu xin danh lợi, không oán thán, biết tha thứ cho người khác, sống trong sạch, lành mạnh, thanh tịnh, luôn nhận phần thiệt thòi về mình. Tư tưởng Lão - Trang thể hiện ở quan niệm sống phủ nhận danh lợi, ung dung tự tại, vô vi và hòa hợp với thiên nhiên<sup data-original-title="^ Nguyễn Hữu Sơn 2007, tr. 164-173" title="">71</sup>&nbsp;.</p>

<p>Một số ý kiến cho rằng, ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo, dù chỉ giữ vị trí thứ yếu trong tư tưởng Nguyễn Trãi, chính là ảnh hưởng của tam giáo đồng nguyên trong hệ tư tưởng Lý - Trần. Nguyễn Trãi sống trong một thời kỳ quá độ, thời kỳ bản lề của hai chặng đường lịch sử văn hoá Việt Nam. Trước Nguyễn Trãi là một văn hoá Đại Việt được cấu trúc theo mô hình Phật giáo, sau Nguyễn Trãi là một văn hoá Đại Việt được cấu trúc theo mô hình Nho giáo từ Trung Quốc. Nguyễn Trãi chủ trương xây dựng một nền văn hóa dân tộc, Nho giáo trong tư tưởng của ông có thể gọi là tư tưởng Nho giáo dân gian. Sự thất bại của Nguyễn Trãi trong việc chế định nhã nhạc và việc Lương Đăng hoàn toàn mô phỏng nhã nhạc triều Minh trong việc soạn nhạc cung đình triều Lê đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự tiến triển của tình trạng nhị nguyên văn hoá giữa cung đình và dân gian. Sức sống của nền văn hoá dân tộc giờ đây phải tìm về kho tàng văn hoá dân gian, ở đó các cương lĩnh Nho giáo đã bị lật ngược lại, còn trong triều đình thì về chính trị là chế độ trung ương tập quyền theo hướng chuyên chế, về tư tưởng - văn hóa thì theo hướng độc tôn Nho giáo, bài xích Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian<sup data-original-title="^ “Nguyễn Trãi trong bối cảnh văn hóa Việt Nam”. Trần Quốc Vượng. " title="">72</sup>&nbsp;.</p>
<a name="su-nghiep-van-chuong"></a>

<h2>Sự nghiệp văn chương</h2>

<p>Theo&nbsp;Lê Quý Đôn&nbsp;chép trong sách Đại Việt thông sử, phần Văn tịch chí, thời&nbsp;nhà Minh&nbsp;xâm lược Đại Việt,&nbsp;Trương Phụ&nbsp;thu thập hầu hết sách vở của Đại Việt gửi theo đường sông về Kim Lăng, Trung Quốc. Khi&nbsp;Lê Lợi&nbsp;giành lại độc lập cho Đại Việt, ông mới ra lệnh thu thập sách vở, các bậc danh nho như&nbsp;Lý Tử Tấn,&nbsp;Phan Phu Tiên, Nguyễn Trãi,...cùng nhau sưu tập. Nhưng sau cuộc binh hỏa, sách vở mười phần nay chỉ còn được 4, 5 phần,&nbsp;Lê Quý Đôncó thống kê đầy đủ ở sách Đại Việt thông sử.<sup data-original-title="^ Đại Việt thông sử, tác giả Lê Quý Đôn, dịch giả Ngô Thế Long, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 136" title="">73</sup></p>

<p>Đến thời hiện đại, khi biên soạn sách những tác giả như Nguyễn Hữu Sơn,&nbsp;Phan Huy Lê,...không rõ căn cứ vào đâu khi họ cho rằng sau vụ Lệ Chi Viên,&nbsp;Đinh Liệt&nbsp;cho hủy các sách của Nguyễn Trãi như Luật thư, Dư địa chí, Ngọc đường di cảo, Giao tự đại lễ...</p>
<a name="van-chinh-luan"></a>

<h3>Văn chính luận</h3>

<ul>
	<li>Quân trung từ mệnh tập là tập sách gồm những văn thư do Nguyễn Trãi thay mặt&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;gửi cho các tướng tá&nbsp;nhà Minh&nbsp;trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và văn răn tướng sĩ, từ năm 1423 đến năm 1427. Bản khắc in năm 1868 chỉ ghi lại được 46 văn kiện. Năm 1970, nhà nghiên cứu&nbsp;Trần Văn Giáp&nbsp;phát hiện thêm 23 văn kiện nữa do Nguyễn Trãi viết gửi cho tướng&nbsp;nhà Minh<sup data-original-title="^ Nguyễn Trãi 1976, tr. 99" title="">74</sup>&nbsp;.</li>
	<li>Bình Ngô đại cáo</li>
	<li>Một số bài chiếu, biểu viết dưới thời&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;và&nbsp;Lê Thái Tông&nbsp;(1433 - 1442)</li>
</ul>
<a name="lich-su"></a>

<h3>Lịch sử</h3>

<ul>
	<li>Lam Sơn thực lục là quyển lịch sử ký sự ghi chép về công cuộc 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn, do vua&nbsp;Lê Thái Tổsai soạn vào năm 1432. Vấn đề tác giả của trước tác phẩm này vẫn còn chưa rõ ràng<sup data-original-title="^ Nhiều tác giả 1963, tr. 385" title="">75</sup>&nbsp;, dù cho đến nay nhiều người khẳng định rằng&nbsp;<i>Lam Sơn thực lục</i>&nbsp;là tác phẩm do Nguyễn Trãi nhưng điều đó vẫn chỉ mang tính phỏng đoán<sup data-original-title="^ Trần Văn Giáp trong Ức Trai quân trung từ mệnh tập bổ biên, Tài liệu đánh máy, Thư viện Quốc gia Việt Nam phê phán người đem Lam Sơn thực lục gán ghép cho Nguyễn Trãi là thiếu thận trọng" title="">76</sup>&nbsp;.</li>
</ul>
<span aria-label=" ảnh widget" contenteditable="false" role="region" tabindex="-1"><img loading="lazy" alt="" src="http://nguoikesu.com/images/wiki/nguyen-trai/66f4f7d4bfaae28278ea053c9bf0ca83.jpg" //><span style="background: url(&#039;http://honguyenvietnam.org/vi/assets/editors/ckeditor/plugins/widget/images/handle.png&#039;) rgba(220, 220, 220, 0.5); top: -15px; left: 0px; display: block;"><img loading="lazy" draggable="true" height="15" role="presentation" src="https://honguyenvietnam.org/data:image/gif;base64,R0lGODlhAQABAPABAP///wAAACH5BAEKAAAALAAAAAABAAEAAAICRAEAOw==" title="Nhấp chuột và kéo để di chuyển" width="15" //></span><span title="Kéo rê để thay đổi kích cỡ">​</span></span><br  />
Văn bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1433
<ul>
	<li>Vĩnh Lăng thần đạo bi là bài văn bia ở Vĩnh Lăng - lăng của vua&nbsp;Lê Thái Tổ, kể lại thân thế và sự nghiệp của&nbsp;Lê Thái Tổ.</li>
</ul>
<a name="dia-ly"></a>

<h3>Địa lý</h3>

<ul>
	<li>Dư địa chí.</li>
</ul>
<a name="tho-phu"></a>

<h3>Thơ phú</h3>

<ul>
	<li>Ức Trai thi tập là tập thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi, gồm 105 bài thơ, trong đó có bài Côn Sơn ca nổi tiếng. Theo&nbsp;Lê Quý Đôn&nbsp;sách gồm 3 quyển, Nguyễn Trãi Soạn, Trần Khắc Kiệm biên tập.</li>
	<li>Quốc âm thi tập là tập thơ bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, gồm 254 bài thơ, chia làm 4 mục: Vô đề (192 bài), Thời lệnh môn (21 bài), Hoa mộc môn (34 bài), Cầm thú môn (7 bài). Theo&nbsp;Trần Huy Liệu&nbsp;đây là tập thơ Nôm xưa nhất của Việt Nam còn lại đến nay<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 159" title="">77</sup>&nbsp;. Bằng tập thơ này, Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm của Việt Nam<sup data-original-title="^ Nhiều tác giả 2007, tr. 17" title="">78</sup></li>
	<li>Chí Linh sơn phú là bài phú bằng chữ Hán, kể lại sự kiện nghĩa quân Lam Sơn rút lên&nbsp;núi Chí Linh&nbsp;lần thứ ba vào năm 1422.</li>
	<li>Băng Hồ di sự lục là thiên tản văn bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi làm vào năm 1428, kể về cuộc đời&nbsp;Trần Nguyên Đán.</li>
	<li>Sách Luật thư, 6 quyển, nay không còn, được Nguyễn Trãi soạn vào khoảng thời gian 1440-1441.</li>
</ul>
<a name="nhan-dinh"></a>

<h2>Nhận định</h2>

<ul>
	<li>Sách Khâm định việt sử thông giám cương mục có những nhận định về Nguyễn Trãi như sau: Theo nhận định của sử quan:&nbsp;<i>Ông Trãi giúp&nbsp;Lê Thái Tổ&nbsp;khai quốc, rồi lại giúp&nbsp;Lê Thái Tông, tài trí, phép tắc, mưu mô, đạo đức, đều vượt hơn hết mọi người lúc bấy giờ</i><sup data-original-title="^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 20" title="">79</sup>&nbsp;Theo lời phê của Tự Đức:&nbsp;<i>Đời&nbsp;Lê Thái Tông, vua thì buông tuồng, bầy tôi thì chuyên quyền. Trãi nếu là người hiền, thì nên sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích để cho danh tiếng được toàn vẹn. Thế mà lại đi đón trước ngự giá, thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ. Vậy thì cái vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy. Như thế sao được gọi là người hiền?</i><sup data-original-title="^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 17" title="">80</sup></li>
	<li>Trong Lịch triều hiến chương loại chí,&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;chú thích rằng:<i>Ức Trai tiên sinh, đương lúc Thái Tổ mới sáng nghiệp theo về Lỗi Giang, trong thì bàn kế hoạch nơi màn trướng, ngoài thì thảo văn thư dụ các thành; văn chương tiên sinh làm vẻ vang cho nước, lại được vua yêu tin quí trọng</i>.</li>
</ul>

<p><sup data-original-title="^ Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2006, trang 277" title="">81</sup></p>

<ul>
	<li>Hà Nhậm Đại Người thế kỉ 16:</li>
</ul>
				<i>Công giúp hồng đồ cao nữa (tựa) núi</i>
				<i>Danh ghi thanh sử sáng bằng gương</i>&nbsp;<sup data-original-title="^ Hà Nhiệm Đại, Khiếu vịnh tập, dẫn trong Quốc âm thi tập, bản phiên âm của Nhà xuất bản Văn Sử Địa, 1956, trang 16" title="">82</sup>
<ul>
	<li>Theo Đỗ Nghi:&nbsp;<i>Nhà Lê sở dĩ lấy được thiên hạ đều do sức ông cả</i>&nbsp;và Đỗ Nghi tiếc rằng:&nbsp;<i>Tiếc thay trời chưa muốn bình trị thiên hạ, cho nên cuối cùng ông vẫn chỉ làm chức hành khiển Đông đạo, không được giở hết hoài bão của mình; việc đó không phải là không may cho ông, mà chính là không may cho sinh dân đời Lê vậy</i>.<sup data-original-title="^ Dương Bá Cung, Bình luận chư thuyết trong Ức Trai di tập, quyển 5" title="">83</sup></li>
	<li>Theo Dương Bá Cung:<i>công lao của ông trùm khắp trên đời</i>&nbsp;<sup data-original-title="^ Dương Bá Cung, Tiên sinh sự trạng khảo trong Ức Trai di tập, quyển 5" title="">84</sup></li>
	<li>Lê Quý Đôn&nbsp;trong&nbsp;<i>Kiến Văn tiểu lục</i>&nbsp;nhận định về ông:&nbsp;<i>Khi vào yết kiến Bình Định vương ở Lỗi Giang liền được tri ngộ, viết thư gửi tướng súy&nbsp;nhà Minh, thảo hịch truyền đi các lộ, đứng vào bậc nhất một đời, chức vị Thượng thư, cấp bậc công thần. Cứ xem ông giúp chính trị hai triều vua hết lòng trung thành, tuy dâng lời khuyên răn thường bị đè nén mà không từng chịu khuất... nhưng vì tối nghĩa về &quot;chỉ, túc&quot; thành ra cuối cùng không giữ được tốt lành, thật đáng thương xót!... Người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua, thì ngàn năm cũng không thể mai một được&quot;</i><sup data-original-title="^ Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2007, tr 308-309. Ý Lê Quý Đôn nói theo lời của Lão Tử, cho rằng Nguyễn Trãi có tài nhưng không biết thời thế không thuận lợi thì nên rút lui nên mới gặp họa" title="">85</sup>&nbsp;.</li>
	<li>Theo Nguyễn Năng Tĩnh:&nbsp;<i>Nước Việt ta, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có các tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm</i><sup data-original-title="^ Nguyễn Năng Tĩnh, Tựa Ức Trai di tập của Dương Bá Cung" title="">86</sup></li>
	<li>Ở thế kỉ 20, thủ tướng&nbsp;Phạm Văn&nbsp;Đồng đã đánh giá:&nbsp;<i>Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao &quot;mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu&quot;; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, &quot;yếu đánh mạnh ít địch nhiều... thắng hung tàn bằng đại nghĩa&quot;; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao... Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta</i><sup data-original-title="^ Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, báo Nhân dân số 3099, ngày 19 tháng 9 năm 1962" title="">87</sup>&nbsp;.</li>
	<li>Theo Keith Weller Taylor, một sử gia người Mĩ nghiên cứu về lịch sử Việt Nam:<i>Lúc đó phần nhiều người ở các vùng xung quanh Hà Nội tức là Đông Kinh theo chính trị của người Minh. Nguyễn Trãi là người Bắc thường, và ông phải chạy đến Thanh Hóa. Hơn 9.000 người Đông Kinh đã làm việc cai trị cho người Minh. Nguyễn Trãi viết thư cố thuyết phục họ bỏ người Minh theo&nbsp;Lê Lợi... Nguyễn Trãi là một nhà thơ tài năng, nhưng vai trò của ông về mặt chính trị và quân đội thì khá mờ nhạt.&nbsp;Lê Lợi&nbsp;và các tướng lĩnh khác chỉ muốn dùng tài năng thơ văn của Nguyễn Trãi để tuyên truyền và vận động dân chúng đứng về phía mình.</i><sup data-original-title="^ &#91;1&#93; Phỏng vấn KW Taylor BBC" title="">88</sup></li>
	<li>Theo Nguyễn Diên Niên:<i>Hành trạng của Nguyễn Trãi ở triều Lê không thể cho ta cái nhận thức ông là một lãnh tụ, linh hồn của Khởi nghĩa Lam Sơn. Ở ông, ông chỉ là một viên quan triều đình như bao viên quan khác. Ông nổi tiếng là ở tài văn chương được người đời ca ngợi trong chức vụ Thừa chỉ mà Thái Tổ ban cho.&nbsp;Lê Thánh Tôngcũng đã có một câu đánh giá tài năng văn chương của ông:</i>Văn chương Nguyễn Trãi làm vẻ vang cho nước.<i>Theo tác giả này sách Tang thương ngẫu lục viết vào thế kỷ 18 đã tạo nên truyền thuyết dân gian về vai trò&nbsp;Lê Lợi&nbsp;số 1, Nguyễn Trãi số 2. Sau này các nhà sử học ở Viện sử học như&nbsp;Phan Huy Lê&nbsp;cũng đã dựa vào truyền thuyết này để viết sách giáo khoa giảng dạy ở các trường học ở Việt Nam.<sup data-original-title="^ Suy ngẫm về 20- một chớp mắt của lịch sử đầu thế kỷ XV, Nguyễn Diên Niên, Nhà xuất bản tri thức, 2013, tr 139" title="">89</sup></i></li>
	<li>Theo một tác giả hiện đại Nguyễn Lương Bích: Công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng, vĩ đại, Nguyễn Trãi quả thật là anh hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc. Công lao quý giá nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông. Ông đã đem hết tâm hồn, trí tuệ, tài năng phục vụ lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã dẫn đường cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi.<sup data-original-title="^ Nguyễn Lương Bích, trang 603" title="">90</sup>&nbsp;Tố chất thiên tài của Nguyễn Trãi là sản phẩm của phong trào đấu tranh anh dũng của dân tộc trong một cao điểm của lịch sử. Thiên tài ấy đã để lại một sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác được. Dầu sao, nếu chỉ xét về mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm một cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực văn học.</li>
</ul>
<a name="ve-van-chuong"></a>

<h3>Về văn chương</h3>

<p>Nguyễn Trãi được đánh giá là một nhà văn chính luận kiệt xuất<sup data-original-title="^ a ă Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 72" title="">91</sup>&nbsp;. Đời sau có nhiều người ca ngợi văn chương của ông<sup data-original-title="^ a ă Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 72" title="">91</sup>&nbsp;:</p>

<ul>
	<li>Nguyễn Mộng Tuân&nbsp;xem ông là &quot;bậc văn bá&quot;</li>
	<li>Lê Quý Đôn&nbsp;đánh giá ông là &quot;văn thư thảo hịch giỏi hơn hết một thời&quot;</li>
	<li>Tô Thế Nghi ca ngợi ông là &quot;sông Giang&nbsp;sông Hán&nbsp;trong các sông và sao Ngưu sao Đẩu trong các sao&quot;</li>
	<li>Phạm Đình Hổ&nbsp;xem văn chương của ông &quot;có khí lực dồi dào... đọc không chán miệng&quot;</li>
	<li>Theo Dương Bá Cung, văn Nguyễn Trãi &quot;rõ ràng và sang sảng trong khoảng trời đất&quot;</li>
	<li>Theo&nbsp;Phan Huy Chú: &quot;văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế&quot;</li>
	<li>Phạm Văn&nbsp;Đồng nhìn nhận văn chương Nguyễn Trãi &quot;đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường&quot;</li>
</ul>

<p>Riêng những tác phẩm văn chính luận của ông mang tính chiến đấu xuất phát từ ý thức tự giác dùng văn chương phục vụ cho những mục đích chính trị, xã hội, thể hiện lý tưởng chính trị - xã hội cao nhất trong thời phong kiến Việt Nam<sup data-original-title="^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 79" title="">92</sup>&nbsp;. Ngoài ra, các tác phẩm này còn phản ánh tinh thần dân tộc đã trưởng thành, điều này được đánh giá là một thành tựu lịch sử tư tưởng và lịch sử văn học Việt Nam<sup data-original-title="^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 73, 76" title="">93</sup>&nbsp;.</p>
<a name="ve-nhan-dinh-cua-le-thanh-tong-trong-tho-ca"></a>

<h3>Về nhận định của&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;trong thơ ca</h3>

<p>Lê Thánh Tông&nbsp;trong bài &quot;Quân minh thần lương&quot; (君明臣良) của tập thơ &quot;Quỳnh uyển cửu ca&quot; (瓊苑九歌) có câu: &quot;Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo&quot; (抑齋心上光奎藻). Trong một thời gian dài, nhiều sách giáo khoa lịch sử và văn học dịch câu này là:&nbsp;<i>&quot;Tâm hồn Úc Trai trong sáng như sao Khuê buổi sớm&quot;</i>. Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân khẳng định đây là một cách dịch sai lầm và lý giải nguồn gốc như sau:</p>

<p>Cách dịch câu thơ trên của&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;như mọi người thường biết bắt đầu từ năm 1962, khi nhà sử học&nbsp;Trần Huy Liệu&nbsp;đưa ra bản dịch câu thơ đó trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 520 năm ngày mất của Nguyễn Trãi, mà Bùi Duy Tân khẳng định là dịch sai: &quot;Ức Trai lòng sáng như sao Khuê&quot;<sup data-original-title="^ a ă â Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 94" title="">94</sup>&nbsp;. Bùi Duy Tân phân tích, trong câu dịch này, chữ &quot;tảo&quot; không được dịch, chữ &quot;Khuê&quot; bị hiểu sai nghĩa về văn cảnh. Các nhà xuất bản, trường học lần lượt sử dụng lời dịch sai này, xem đây là lời bình luận về nhân cách Nguyễn Trãi. Hệ quả là sau đó nhiều tác phẩm văn học, ca kịch... nói về Nguyễn Trãi dùng &quot;sao Khuê&quot; làm cách hoán dụ để nói về ông (&quot;Sao Khuê lấp lánh&quot;, &quot;Vằng vặc sao Khuê&quot;...)<sup data-original-title="^ a ă â Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 94" title="">94</sup>&nbsp;.</p>

<p>Trong giới nghiên cứu, giảng dạy văn học cổ đã từng có nhiều ý kiến nói về cách dịch sai này, nhưng ít tác giả làm rõ vấn đề<sup data-original-title="^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 95" title="">95</sup>&nbsp;. Cần xem câu thơ của&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;trong toàn bộ bài &quot;Quân minh thần lương&quot; để làm rõ nghĩa:</p>

<p>Nguyên văn chữ Hán:</p>
			高帝英雄蓋世名
			文皇智勇撫盈成
			抑齋心上光奎藻
			武穆胸中列甲兵
			十鄭第兄聯貴顯
			二申父子佩恩榮
			孝孫洪德承丕緒
			八百姬周樂治平
<p>Phiên âm Hán Việt:</p>
			Cao Đế anh hùng cái thế danh
			Văn Hoàng trí dũng phú doanh thành
			Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo
			Vũ Mục hung trung liệt giáp binh
			Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển
			Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
			Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi sự
			Bát bách Cơ Chu lạc trị bình
<p>Bài thơ này ca ngợi sự nghiệp&nbsp;nhà Hậu Lê. Bản dịch thơ của&nbsp;Hoàng Việt&nbsp;thi văn tuyển xuất bản năm 1958 (xuất bản trước thời điểm&nbsp;Trần Huy Liệu&nbsp;đưa ra bài viết có câu dịch được phổ biến năm 1962) được các nhà nghiên cứu đính chính câu thơ trên cho rằng đã dịch đúng<sup data-original-title="^ a ă â Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 94" title="">94</sup>&nbsp;:</p>
	<i>Cao Đế anh hùng dễ mấy ai</i>
	<i>Văn Hoàng trí dũng kế ngôi trời</i>
	<i><b>Văn chương Nguyễn Trãi lòng soi sáng</b></i>
	<i>Binh giáp&nbsp;Lê Khôi&nbsp;bụng chứa đầy</i><sup data-original-title="^ Lê Khôi ở đây là Khai quốc công thần Lê Khôi, người gọi vua Lê Thái Tổ bằng chú ruột" title="">96</sup>
	<i>Mười Trịnh vang lừng nền phú quý</i><sup id="ref_fnone">&#91;f&#93;</sup>
	<i>Hai Thân sáng rạng vẻ cân đai</i><sup id="ref_fnone">&#91;f&#93;</sup>
	<i>Cháu nay Hồng Đức nhờ ơn nước</i>
	<i>Cơ nghiệp Thành Chu vận nước dài</i>
<p>Một dị bản khác là&nbsp;<i>Toàn Việt thi lục</i>&nbsp;của&nbsp;Lê Quý Đôn, câu thứ 4 không dùng &quot;liệt&quot; mà dùng &quot;uẩn&quot; mang nghĩa chất chứa, được nhìn nhận là chuẩn xác hơn, và do đó đối chỉnh nghĩa với câu 3 về Nguyễn Trãi hơn. Theo nghĩa đen, &quot;khuê&quot; là một trong 28 vị tinh tú, biểu tượng của&nbsp;<i>văn chương</i>; tảo là loài rong biển, nghĩa rộng là màu vẻ đẹp đẽ, không phải mang nghĩa &quot;sớm&quot;<sup data-original-title="^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 96" title="">97</sup>&nbsp;.</p>

<p>&quot;Khuê tảo&quot; đi với nhau chỉ văn, đối với &quot;giáp binh&quot; ở câu dưới chỉ võ. Cách dùng &quot;khuê&quot; để chỉ văn chương khá quen thuộc, ngay cả&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;trong &quot;Quỳnh uyển cửu ca&quot; cũng có viết &quot;...thổ hồng nghê chí khí, quang khuê tảo chi văn&quot; (nghĩa là: &quot;nhả cái khí vồng mống, rạng cái vẻ văn chương...&quot;). Do đó &quot;khuê tảo&quot; trong câu thơ của&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;là ca ngợi văn chương Nguyễn Trãi chứ không phải ca ngợi nhân cách của ông<sup data-original-title="^ Bùi Duy Tân, sách đã dẫn, tr 96-97" title="">98</sup>&nbsp;.</p>
<a name="tuyen-truyen-va-tuong-niem"></a>

<h2>Tuyên truyền và Tưởng niệm</h2>

<p>Năm 1956, Bộ Văn hoá Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tổ chức lần đầu tiên lễ kỷ niệm Nguyễn Trãi nhân 514 năm ngày mất của ông<sup data-original-title="^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 5" title="">99</sup>&nbsp;. Sau đó, vào các năm 1962, 1967, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều đặn kỉ niệm 520 năm và 525 năm ngày mất của Nguyễn Trãi và đã phát hành một bộ tem về ông vào năm 1962<sup data-original-title="^ “Nguyễn Trãi (1380 - 1442)”. " title="">100</sup>&nbsp;. Năm 1980, Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho phát hành một bộ tem về Nguyễn Trãi nhân kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông<sup data-original-title="^ “Kỷ niệm 600 năm năm sinh Nguyễn Trãi (1380 - 1980)”. " title="">101</sup>&nbsp;.</p>

<p>Đền thờ Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, Hà Nội vốn là từ đường của họ Nguyễn Nhị Khê, được xây dựng sau khi vua&nbsp;Lê Thánh Tông&nbsp;chiêu tuyết cho ông<sup data-original-title="^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ &amp;lt;ref&amp;gt; sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gp" title="">64</sup>&nbsp;. Đền còn lưu giữ bức chân dung Nguyễn Trãi cổ vẽ trên lụa và nhiều bức hoành phi nêu bật công lao và đức độ Nguyễn Trãi. Nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, nhà thờ đã được tôn tạo mở rộng, có thêm phòng trưng bày về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi và tượng đài Nguyễn Trãi. Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá vào tháng 1 năm 1964.</p>

<p>Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Hải Dương được khởi công xây dựng vào năm 2000 và khánh thành vào năm 2002. Toạ lạc tại khu vực động Thanh Hư, đền có mặt bằng rộng 10.000m<sup>2</sup>, xoải dốc dưới chân dãy Ngũ Nhạc kề liền&nbsp;núi Kỳ Lân, chia thành nhiều cấp, tạo chiều sâu và tăng tính uy nghiêm. Nghệ thuật trang trí mô phỏng phong cách Lê và Nguyễn. Đền đã được công nhận di tích nghệ thuật kiến trúc năm 2003. Ngoài ra, Nguyễn Trãi và&nbsp;Nguyễn Thị Lộ&nbsp;cũng được thờ ở làng Khuyến Lương, nay là phường Trần Phú,&nbsp;quận Hoàng Mai&nbsp;và ở xã Lệ Chi Viên,&nbsp;huyện Gia Lâm, Hà Nội.</p>
<a name="hinh-anh-trong-van-hoa"></a>

<h2>Hình ảnh trong văn hóa</h2>

<p>Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi đã trở thành cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật.</p>

<ul>
	<li><i>Bí Mật Vườn Lệ Chi</i>&nbsp;(kịch,tác giả:Hoàng Hữu Đản.đạo diễn:Nghệ sĩ ưu tú Thành Lộc)</li>
	<li><i>Nguyễn Trãi ở Đông Quan</i>&nbsp;(Kịch,&nbsp;Nguyễn Đình Thi)</li>
	<li><i>Đêm của bóng tối</i>&nbsp;(Kịch, Lê Chí Trung)</li>
	<li><i>Vạn xuân</i>&nbsp;(tiểu thuyết, Yveline Feray)</li>
	<li><i>Đêm Côn Sơn</i>&nbsp;(thơ,&nbsp;Trần Đăng Khoa)</li>
	<li><i>Nguyễn Trãi</i>&nbsp;(tiểu thuyết, Bùi Anh Tấn)</li>
	<li><i>Thiên mệnh anh hùng</i>&nbsp;(phim dựa theo tiểu thuyết&nbsp;<i>Nguyễn Trãi</i>&nbsp;- quyển 2,&nbsp;<i>Bức huyết thư</i>&nbsp;- đạo diễn Victor Vũ).</li>
</ul>
<a name="ten-duong-pho"></a>

<h2>Tên đường phố</h2>

<p>Tại&nbsp;thành phố Hà Nội, từ thời Pháp thuộc đã có một con đường nhỏ và ngắn ở khu vực trung tâm mang tên đường Nguyễn Trãi (nay là đường Nguyễn Văn Tố). Cuối năm 1945, chính quyền Cách mạng tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đổi tên con đường này, đồng thời đặt tên đường Nguyễn Trãi cho một con đường dài hơn ở khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm (nay là đường Lò Sũ). Tuy nhiên, sau đó đến đầu năm 1951, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp trong đợt đổi tên đường cũ thời Pháp sang tên danh nhân Việt Nam với quy mô lớn thì vẫn duy trì tên đường Nguyễn Trãi vốn đã có từ Pháp thuộc này. Sau năm 1954, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban đầu vẫn duy trì đường Nguyễn Trãi cũ của các chính quyền đối phương. Tuy nhiên đến năm 1964 trên cơ sở cho rằng con đường Nguyễn Trãi ngắn và nhỏ như vậy hoàn toàn không phù hợp với công lao to lớn của ông đối với đất nước, chính quyền Hà Nội lại cho đổi tên đường Nguyễn Trãi cũ thành đường Nguyễn Văn Tố và giữ nguyên cho đến ngày nay; còn tuyến quốc lộ 6 đoạn từ Ngã Tư Sở đến vùng giáp ranh&nbsp;thị xã Hà Đông&nbsp;thuộc&nbsp;tỉnh Hà Đông&nbsp;cũ thì cho đặt tên là đường Nguyễn Trãi.</p>

<p>Tại đô&nbsp;thành Sài Gòn&nbsp;- Chợ Lớn, từ năm 1954 chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) cũng cho đặt tên một con đường mang tên là đường Nguyễn Trãi tại khu vực&nbsp;thành phố Chợ Lớn&nbsp;cũ. Tuy nhiên một năm sau, vào năm 1955 do thấy không phù hợp nên chính quyền này lại cho đổi tên đường Nguyễn Trãi cũ thành đường Trần Nhân Tôn và giữ nguyên cho đến ngày nay; còn tuyến đường Quang Trung cũ đoạn đi qua khu vực quận 5 ngày nay (cũng nằm trong khu vực&nbsp;thành phố Chợ Lớn&nbsp;cũ) vốn dài khoảng 4&nbsp;km thì cho đặt tên là đường Nguyễn Trãi. Đến năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục cho nhập chung và đổi tên đường&nbsp;Võ Tánh&nbsp;cũ ở khu vực quận 2 cũ (nay là quận 1) vốn dài khoảng 2&nbsp;km thành đường Nguyễn Trãi. Như vậy đường Nguyễn Trãi hiện nay ở thành phố&nbsp;Hồ Chí Minh&nbsp;dài khoảng 6&nbsp;km.</p>

<p>Tại thị xã Cần Thơ thuộc&nbsp;tỉnh Cần Thơ&nbsp;cũ (nay là&nbsp;thành phố Cần Thơ&nbsp;trực thuộc trung ương), từ năm 1954, một phần quốc lộ 4 cũ (nay gọi là quốc lộ 1, nhưng phần này đã trở thành đường chính nội bộ, không còn là một phần của đường quốc lộ) đoạn từ vòng xoay trung tâm đến cầu Cái Khế cũng được đặt tên là đường Nguyễn Trãi. Sau năm 1975, chính quyền mới tiếp tục cho nhập chung và đổi tên đường Hai Bà Trưng cũ (đoạn từ cầu Cái Khế tới vòng xoay Ngã tư bến xe) thành đường Nguyễn Trãi, giữ nguyên cho đến ngày nay. Bên cạnh đó từ trước năm 1975 tại thị trấn Cái Răng cũ (nay là phường Lê Bình,&nbsp;quận Cái Răng) cũng có một con đường quan trọng mang tên đường Nguyễn Trãi.<br  />
-------------------- Nội dung bài viết mang tính tham khảo --------------------<br  />
honguyenvietnam.org</p>
		</div>
				<div id="author">
						<p>
				<strong>Tác giả bài viết:</strong>
				honguyenvietnam.org
			</p>
		</div>
				<div class="copyright">
			Nội dung thuộc bản quyền của&nbsp;© Tạp chí điện tử <strong>Họ Nguyễn Việt Nam</strong><br  />
<strong>Chú ý</strong>: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn <em><strong>http://honguyenvietnam.org</strong></em> là vi phạm bản quyền<br  />
-------------------------------------------------<br  />
<b>Xin mời quý bà con cộng đồng cùng chia sẻ và kết nối thông tin với ban biên tập cổng thông tin họ Nguyễn Việt Nam.<br  />
Email: <a href="mailto:info@honguyenvietnam.org">info@honguyenvietnam.org</a></b><br  />
<strong>Điện thoại: <a href="tel:0907097567">0907097567</a><br  />
Zalo Group:&nbsp;<a href="https://zalo.me/g/ggupcf777">https://zalo.me/g/ggupcf777</a><br  />
Facebook Groups:&nbsp;<a href="https://www.facebook.com/groups/congdonghonguyen">https://www.facebook.com/groups/congdonghonguyen</a><br  />
Fanpage:&nbsp;<a href="https://www.facebook.com/honguyenvietnam">https://www.facebook.com/honguyenvietnam</a></strong>
		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://honguyenvietnam.org/vi/lich-su/nguyen-trai-nhan-vat-lich-su-danh-nhan-dat-viet-nguoi-ho-nguyen-222.html" title="NGUYỄN TRÃI - Nhân vật lịch sử, danh nhân đất Việt người họ Nguyễn.">https://honguyenvietnam.org/vi/lich-su/nguyen-trai-nhan-vat-lich-su-danh-nhan-dat-viet-nguoi-ho-nguyen-222.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM - CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:"></a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://honguyenvietnam.org/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/vi/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=-4,nv_my_abbr="EDT",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=1,nv_is_recaptcha=0;</script>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/news.js"></script>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/main.js"></script>
<script type="application/ld+json">
	{
	  "@context": "https://schema.org",
	  "@graph": [
	    {
	      "@type": "Organization",
	      "@id": "https://honguyenvietnam.org/#organization",
	      "name": "HỌ NGUYỄN VIỆT NAM | CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM | CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM",
	      "url": "https://ipped.vn/",
	      "logo": {
	        "@type": "ImageObject",
	        "url": "https://honguyenvietnam.org/vi/uploads/logo_honguyenvienam.png",
	        "width": 512,
	        "height": 512
	      },
	      "sameAs": [
	        "https://www.facebook.com/honguyenvietnam/",
	        "https://www.youtube.com/@congdonghonguyen",
	        "https://www.tiktok.com/@congdonghonguyen"
	      ],
	      "contactPoint": {
	        "@type": "ContactPoint",
	        "telephone": "+84-0907097567",
	        "contactType": "customer service",
	        "areaServed": "VN",
	        "availableLanguage": "Vietnamese"
	      }
	    },
	    {
	      "@type": "WebSite",
	      "@id": "https://honguyenvietnam.org/#website",
	      "url": "https://honguyenvietnam.org/",
	      "name": "HỌ NGUYỄN VIỆT NAM | CỘNG ĐỒNG HỌ NGUYỄN VIỆT NAM | CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM",
	      "publisher": {
	        "@id": "https://honguyenvietnam.org/#organization"
	      },
	      "potentialAction": {
	        "@type": "SearchAction",
	        "target": "https://honguyenvietnam.org/vi//search?q=",
	        "query-input": "required name=search_term_string"
	      }
	    }
	  ]
	}
	</script>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js"></script>
<script src="https://honguyenvietnam.org/vi/themes/themtet2018/js/fix_banners.js"></script>
</body>
</html>