Kể từ lúc các Vua Hùng khởi nghiệp, dân tộc ta đã trải hơn bốn nghìn năm lịch sử dày công dựng nước và giữ nước, anh dũng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược và không ngừng mở mang bờ cõi về phương Nam; khẳng dịnh sự trường tồn và sức mạnh lớn lao của dân tộc.

Đến hậu bán thế kỷ 15, triều Hậu Lê – niên hiệu Hồng Đức, Vua Lê Thánh Tông tiến hành cuộc tổng phản công vào đất Chămpa năm 1471; nhà vua thân chinh thống lĩnh đại quân chiến thắng kẻ thù thường xuyên quấy nhiễu nước ta. Sau khi yên được giặc, Ngài hạ chiếu di dân lập ấp mở làng; tổ chức binh lính khẩn hoang, nhằm biến miền đất nơi này trở thành tồn điền phên dậu vững chắc và vùng kinh tế trù phú ở phương Nam.

Trong cuộc trường chinh lịch sử trọng đại này có nhiều người lập công lớn. Trong đó có ngài ĐẶC TẤN PHỤ QUỐC THƯƠNG TƯỚNG QUÂN, CẨM Y VỆ ĐÔ CHỈ HUY SỨ TY ĐÔ CHỈ HUY SỨ, CAI PHỦ PHÓ TƯỚNG, NGỰ LỘC HẦU NGUYỄN HỮU DÕNG (DŨNG). Tiền hiền thủy tổ khảo Nguyễn Hữu tộc làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Nguyên quán Đa Tốn thôn, Kiệt Đặc xã, Kiệt Đặc tổn, Chí Linh huyện, Nam Sách phủ, Hải Dương tỉnh, Bắc Vệt.

Thân phụ của ngài là Thái thủy tổ khảo NGUYỄN HỮU DẬT (DỰC), quan ĐẶC TẤN KIM TỬ BÌNH LỘC ĐẠI PHU, PHỦ ĐÈ LẠI VÂN LƯƠNG NAM triều Hậu Lê.

Thân mẫu của ngài là Thái thủy tổ tỷ, thừa ấm phu nhân TRƯƠNG THỊ BAN quý nương

Ngài cùng với bào huynh là Thủy tổ bá khảo, hầu tước NGUYỄN HỮU CẢNH-Tiền hiền khai lập làng Bồ Mưng; và bào đệ là Thủy tổ thúc khảo, Đại Đức đôn hậu Thuần vy quý công NGUYỄN HỮU BÍCH (Chưa rõ lập nghiệp nơi nào) phục mệnh vua tùng chinh Nam tién

Thoạt tiên, khi đến miền đất này, với nhãn quan sâu rộng và tinh tế, nhận rõ đây là “miền đất hứa”: “Thiên địa phong quang, linh khí triệu bồi thiên cổ tại, giang sơn cẩm tú, sáng khai cơ nghiệp vạn niên tồn”, Ngài đã cùng tiền hiền các tộc: Lê Tự, Trương Công, Nguyễn Bá, Nguyễn Văn, Lê Công, Phan Sỹ chọn địa điểm cao ráo, gần nguồn nước để tụ cư và lập ra ấp Tây Định (Xóm trên)

Cuộc sống ổn định dần, dân số ngày cảng thêm đông, đồng điền được mở rộng, các ấp Đông Bình (xóm Dưới), ấp Trung Lương (xóm Chay), ấp Bổn Thượng (xóm Rừng) cũng lần lượt hình thành

Bằng nghị lực phi thường và trí tuệ thông minh các bậc Tiền hiền đã cùng nhau “chung lưng đấu cật”, quyết tâm vượt bao gian khổ, khắc phục thiên nhiên nghiệt ngã, kiên định, một lòng “đồng cam, cộng khổ” để tạo lập nên làng Thanh Quýt với 12 xứ đồng điền rộng lớn: Bắc Bình, Lệ Thủy, Bàu Đưng, Thanh Luy Tiền, Thanh Luyu Trung, Thanh Luy Hậu, Mụ Đội , Bàu Nhơn, Trà Cổ, Minh Thượng, Thạch Não Nội, Thạch Não Ngoại gồm thổ cư và đất canh tác. Đồng thời tổ chức binh lính khai lạch, đào kênh dẫn thủy nhập điền tiêu tưới ruộng vườn cho mùa màng hoa trái xanh tươi. Tiền nhân Nguyễn Hữu Dũng cùng với các chư tộc đã định hình nên các phong tục tập quán, lề thói văn hóa của làng lập ra chợ quán, đình đền, miếu tự cùng với các nghi lễ cúng tế, cung cách ứng xử trong cộng đồng. Nhờ thế làng Thanh Quýt nhanh chóng phát triển thành một miền quê trù phú, phồn thịnh, một miền đất địa linh sinh nhân kiệt

Với công lao to lớn ấy, ngài ĐẶC TẤN PHỤ QUỐC THƯƠNG TƯỚNG QUÂN, CẨM Y VỆ ĐÔ CHỈ HUY SỨ TY ĐÔ CHỈ HUY SỨ, CAI PHỦ PHÓ TƯỚNG, NGỰ LỘC HẦU NGUYỄN HỮU DÕNG (DŨNG) cùng với thủy tổ các tộc Lê Tự, Trương Công, Nguyễn Bá, Nguyễn Văn, Lê Công, Phan Sỹ trong làng được triều đình nhà Hậu Lê sắc phong “ Đại Lang Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Chi Thần”, thất tộc tiền hiền làng Thanh quýt. Đến lịch đại Duy Tân tam niên và Khải Định Cửu niên y sắc tặng.